Thứ Hai, 19 tháng 12, 2011

Đại Vệ Chí Dị 41

Nước Vệ triều nhà Sản năm thứ 66.

Ngày Ất Hợi, tháng Kỷ Hợi nhân lúc nửa đêm tối trời, công sai tổng đốc kinh thành lựa lấy vài trăm quân tinh nhuệ, cho ăn no từ chiều, nai nịt gọn gàng ngậm tăm nhằm hướng Tây kinh thành tiến về ấp Thái Hà.

Đến giờ Hợi là giờ Hoàng Đạo quân lính tủa ra ngăn các ngả đường vào ấp Thái Hà, phong tỏa chặt chẽ đến con ruồi bay cũng không lọt. Bấy giờ công binh mới tiến vào làm công trình cát cứ trên đất của xứ Thái Hà.

Dân xứ Thái Hà điềm nhiên không có phản ứng, đám dân ấy tụ lại một chỗ cầu nguyện.

Quân triều đình thấy thuận lợi không ngờ, bèn cố sức mà làm tới, đến mờ sáng mọi việc đã êm êm. Các quan trên ai nấy cũng hài lòng, thở phào nhẹ nhõm, thấy thắng lợi dễ dàng không ngờ.

Nguyên nhân việc này kéo dài đã mấy tháng trước, dư luận ầm ĩ. Bên triều đình ỷ có tài lực, binh lính, ngày đêm ra rả khắp phố phường vu cho đám dân đạo Thái Hà là quân phản loạn, mượn cớ đòi đất mà tính chuyện làm càn.

Đám kia dân đen, thấp cổ bé họng, vốn nhút nhát từ xưa. Nay nghe loa triều đình rao khắp làng cuối xóm khoác tội vô cớ. Lúc đầu hoảng lắm, sau nhịn không nổi mới bèn cự lại triều đình rằng:
- Sao cái triều đình này lạ thế, cứ động lấy đất của người ta là vu người ta phản nghịch. Như thế há chẳng phải giống đời triều đình thực dân trước kia không?

Nói rồi đám ấy tụm nhau lại mà dâng đơn cớ lên tận sân triều. Nhà Sản thấy phản ứng đó, bên ngoài giả bộ nhân từ, nhận đơn, phủ dụ bảo về chờ quan trên soi xét. Kỳ thực trong bụng uất lắm, nghĩ rằng đám dân kia làm thế là coi thường triều đình. Thế nên mới có chuyện một đằng nhận đơn, một đằng cho loa đi rêu rao mãi, rồi nhân lúc nửa đêm bất thình lình đưa quân đi cát cứ như vậy.

Trời vẫn còn chiều nhà Sản, đêm ấy quan quân triều đình thuận buồm, xuôi gió, công việc trót lọt không ngờ.

Sáng hôm sau thấy yên, nhưng ở trong phủ đầu não kinh thành lại bỗng loạn. Nguyên nhân bởi vì thấy thắng lợi quá bất ngờ, cho nên không biết công của bộ nào. Bên tuyên huấn trình đơn nhận công về mình, bên công sai cũng dâng sớ tấu công, bên bộ Lại, bộ Lễ cũng nhao nhao đòi công của mình ...

Quan tuyên huấn nói:
- Nguyên nhân đám ấy sợ, tự chung là do bên tuyên huấn dùng loa, lựa những lời đao búa phủ đầu, khiếp chúng khiếp nhược mà nằm im. Xin cho được chấm công đầu.

Quan công sai bước ra ngắt lời:
- Xưa nay mỗi khi có âm mưu loạn, đều do công sai bộ Binh, bộ Hình trấn áp thẳng tay khiến chúng khiếp hãi. Lần này các công sai ngày đêm rình rập, uy hiếp tinh thần đám ấy đến nơi, đến chốn, bắt kẻ này, triệu tập kẻ khác liên miên ... khiến đám đó rã rệu tinh thần mà tan nhuệ khí. Nếu đêm đó không có 500 công sai đi, liệu việc có yên không? Xin cho được nhận công đầu.

Bọn Sản địa phương  bấy giờ sợ mất phần, dăm ba đứa béo trắng lao nhao tranh nhau nói:
- Không có Sản chúng tôi chỉ đạo các ban ngành, đoàn thể đóng giả quần chúng nhân dân gây sức ép, liệu các người có thành công được không. Công này nhất phải về tay Sản địa phương.

Đầu phủ kinh thành không biết tính sao, bèn nói thác để tạm hoãn:
- Công đầu được thưởng 1 triệu lạng, còn hạng thứ chia đều mỗi phần 500 nghìn lượng, mức định đã nói trước rồi, đợi vài hôm tra xét minh bạch sẽ trao. Đừng có vội lo.

Nói rồi bãi buổi chầu phủ, khi người các bộ về rồi. Quan phủ viết sớ tường trình sự việc, cho người hỏa tốc chạy sang phủ Chúa báo cáo.

Chúa Nguyễn vốn rộng lượng, xem xong phê rằng:
- Cứ cho công đầu hết, nhưng gọi riêng lên mà trao, bên nào cũng tưởng mình công đầu, tất vui vẻ cả. Tiền bạc cứ thế mà chi, hết đâu phủ Chúa sẽ bù.

Mọi việc nhờ thế mà yên. Có kẻ biết chuyện than rằng:
- Có dăm bọn phản loạn như đám dân Thái Hà kia nữa là nhà Sản vỡ nợ vì chả còn tiền.

Đại Vệ Chí Dị 40

Nước Vệ triều nhà Sản năm thứ 66.

Cuối mùa thu năm ấy, nước Vệ khắp nơi dân tình hốt hoảng vì chuyện nợ nần. Nhiều thương gia lớn vỡ nợ tràn lan. Tiền mất giá, triều đình liên tục cho in những đồng tiền mệnh giá lớn. Nước Vệ giờ tiền lẻ lại hiếm hoi. Dân tình ai ai cũng cảm thấy lo lắng, bất an.

Loạn nổi lên khắp nơi.

Nhà Sản xưa nay ỷ vào binh lính, công sai hùng hậu để trấn áp các mầm mống nổi lên. Mà việc đe dọa, áp bức người khác kéo dài dễ sinh nản. Giống như kẻ gồng mình, nghiến răng, nắm tay mãi rồi cũng mỏi. Không mỏi thì cũng sinh chán nản. Việc dẹp loạn như đi qua ngọn núi, qua ngọn núi này lại thấy ngọn núi khác cao hơn.

Binh lính, công sai nhà Sản theo lệnh trên đi trấn áp các thế lực thù địch miệt mài từ năm này qua năm khác, trải dài đến mấy mươi năm, bình diện khắp đất nước, thậm chí còn sang cả lân bang. Nhà Sản vỗ về, phủ dụ binh lính ngọt ngào rằng họ đang đấu tranh phụng sự cho đất nước, triệt hạ những mầm mống âm mưu của kẻ thù. Bính lính thấy khen cứ thế mà vâng theo.

Bấy giờ có một phép truyền tin bên nước ngoài nhập vào Vệ, có tên gọi là An Sinh Lạc. Phép này rất tiện dụng, người nào biết chữ là có thể dùng được, truyền tin đến nhau nhanh chóng, một người nào cả vạn người nghe thấy. Nhờ có phép này lan rộng, những kẻ mà bị triều đình từ xưa đến nay vu cho là thế lực thù địch có dịp giãi bày thanh minh với thiên hạ.

Dân nước Vệ mới ngã ngửa ra, công sai, bính lính cũng giật mình như tỉnh giấc mơ. Hóa ra từ xưa đến nay thế lực thù địch toàn là dân mình cả, là nông dân bị mất đất, là người thợ bị quỵt lương, người tri thức đóng góp ý kiến dựng xây xã tắc, người bị quan quyền ám hại do  thù riêng, người tôn giáo bị trù dập vì tội coi trọng thần linh của họ hơn quan lại triều đình.....

Ngay cả kinh thành cũng loạn, lạ một cái loạn toàn do người hiền lành gây ra, mầm mống loạn là do yêu nước, tha thiết với công bằng, với quê hương đất nước.

Nhà Sản ra sức dập, nhưng lạ lùng cứ dập nơi này lại xảy ra nơi khác mà chẳng hiểu nguyên nhân vì sao. Bọn lý luận nhà Sản thì nói rằng đó là do các thế lực bên ngoài tạo nên, đằng khác lại nói bọn chống phá trong nước đứng đằng sau.

Người sắp chết hay nhìn thấy ma, bởi lúc đó thể xác đã suy nhược, khiến tinh thần bất an, chẳng qua do sống không điều độ dẫn đến nỗi bệnh tật kinh niên, ngấm sâu vào cơ thể. Ma là do chính mình tạo nên mà không biết đấy thôi.

Chuyện đám dân tập Pháp Luân Công, chả hại gì đến đất nước mình. Họ phản đối hành động tàn ác của nước Tề. Thế mà bởi quỵ lụy Tề mà chuốc vào mình, sai quân đi trấn áp .... bệnh ở đấy mà ra, ma ở đấy ra chứ còn ở đâu.

Đại Vệ Chí Dị 39

Nhà ảo thuật gia lừng danh thế giới trình diễn một màn đặc sắc, có một không hai. Đó là bên xứ Cờ Hoa có một bức tượng nữ thần Tự Do rất lớn. Trước mắt bao nhiêu khán giả, nhà ảo thuật làm tượng Nữ Thần cao hàng trượng, nặng hàng vạn vạn cân ấy biến mất.

Thiên hạ ai cũng lè lưỡi,lắc đầu khen là kỳ tài trong thiên hạ. Nhưng riêng có một người nhỏ bé, tóc đen, mắt đen xem cảnh ấy chỉ cười nhếch mép. Người bên cạnh mới hỏi:
- Ông xem mà không thấy tài giỏi đến lạ lùng sao ?

Người nhỏ bé, tóc đen nói:
- Chuyện thường, đây là phép Biến Có Thành Không, những việc như thế quan lại nước tôi từ hàm lý trưởng trở nên cũng dễ dàng làm được. Từ một miếng đất, ngôi chùa chỉ nhoáng cái là không còn nữa, các loại tài sản chung như bức tượng này ở nước tôi biến mất hàng ngày. Mà chúng đã biến là không bao giờ trở lại.

Người kia phục lắm, mới vái dài:
- Thật là xứ sở lắm anh tài phép thuật cao siêu, ở đây chỉ tài sản chung như bức tượng kia chỉ biến đi vài giây là thiên hạ nể vì lắm rồi.

Người tóc đen khoa tay cắt ngang:
- Thế có gì là ghê gớm, còn phép Biến Không Thành Có nữa cơ.

Người nghe kinh hãi, thán phục đến muôn phần bèn hỏi:
- Có biến thành không đã là ghê, không có tí gì mà biến thành có thì dân chúng tôi chưa nghe thấy bao giờ.

Người tóc đen nhìn quanh, kẻ kia biết ý vội kéo cái ghế cho hắn ngồi, đoạn đưa trầu thuốc ra mời. Bấy giờ an tọa vững vàng, người nhỏ bé tóc đen đằng hắng chậm rãi nói:
- Phép biến không thành có thì nhiều, để cai trị đất nước chúng tôi thường dùng phép ấy. Tức là biến kẻ không có tội thành có tội, khiến kẻ ấy điêu đứng, phải làm tấm gương cho những đứa khác nhìn mà phải e sợ. Ví dụ nước tôi người ta thường hay mang chiếc áo có hàng chữ ủng hộ ngư dân. Triều đình chúng tôi kết tội chúng là bọn phản loạn.

Người kia ú ớ:
- Sao mà kết tội được.

Người tóc đen nói:
- Thế mới cần đến phép biến không thành có, này nhé đầu tiên chúng tôi phái công sai cứ đi theo kẻ mặc áo đó. Ba hoặc bốn công sai ngày đêm quan sát kẻ mặc áo đi đâu, làm gì. Đi nửa kín, nửa hở, ra vẻ theo dõi bí mật nhưng lại đôi lúc làm bộ vô tình cho kẻ ấy thấy công sai đang theo sát. Kẻ ấy trong lòng lúc đầu còn vững vàng nghĩ mình không làm gì sai trái, nhưng lâu ngày bị  theo dõi, tâm thần bắt đầu bấn loạn, tự nghi hoặc là chắc cái áo này có vấn đề gì mới gây chú ý của triều đình. Trong khi các công sai theo dõi, đứng rình rập quanh nhà thỉnh thoảng lộ cho hàng xóm chung quanh nhà kẻ ấy là công sai triều đình đang dò la. Rồi cứ theo phép ấy hàng xóm bạn bè kẻ ấy thế nào cũng phải nghĩ, chắc tên ấy phạm tội gì chứ đó. Khi thiên hạ bắt đầu hoài nghi tên ấy có tội, lúc này chúng tôi sẽ cho người mang giấy triệu áp tải tên ấy lên phủ quan. Ở phủ quan công sao hỏi tên ấy về những ngày mặc áo thì đi những đâu, làm những gì. Nếu tên ấy phản ứng thì công sai sẽ từ tốn giải thích: - Chúng tôi không nói anh có tội, mà mời anh lên để làm rõ sự việc, anh phải có trách nhiệm hợp tác giúp đỡ triều đình. Cứ thế công sai nước chúng tôi cứ theo dõi, chốc lại triệu lên hỏi, rồi đến chỗ làm của hắn hỏi chủ hắn, đồng nghiệp hắn là hắn mặc áo để làm gì, đành rằng ủng hộ ngư dân, nhưng cần phải làm rõ hắn đi đâu, mặc áo vào ngày nào, đến chỗ làm nói gì ... cứ kiên trì gây dư luận về chiếc áo như thế. Rồi một ngày chúng tôi cho người đóng giả làm bọn phiến loạn tung hô cái áo ấy là biểu tượng chống sự hèn nhát của chính quyền, không bảo vệ ngư dân, hãy đứng lên lật đổ chế độ.

Người nghe rụng rời thốt:
- Nếu thế kẻ mặc áo là tay trong, là nội gián à ?

Người tóc đen gật đầu:
- Chính thế, liệu kẻ ấy cãi thì ai tin là hắn không có tội.

Người nghe hỏi:
- Anh ở xứ nào mà lắm chuyện quái dị như vậy.

Người kia nói:
- Tôi ở nước Vệ, vì nước tôi lắm chuyện kỳ dị như vậy, nên dân gian mới có tập Đại Vệ Chí Dị để chép lại những chuyện kỳ quái mà ít nơi nào có được.

Đại Vệ Chí Dị 38

Năm Tân Mão đời Vệ Kính Vương thứ nhất, triều nhà Sản thứ 66.

Bấy giờ bốn phương phẳng lặng, của cải sung túc, kho tàng dồi dào,bá tính hiền hòa. Ngoài đường rơi của không ai nhặt, công đường chẳng có ai thưa kiện, kêu oan thật là cảnh thái hòa từ xưa đến nay. Vua quan nhà Vệ rỗi rãi, buổi chầu không có việc gì quan trọng để mà bàn. Các quan lại nhẩn nha ngồi đợi hết giờ. Bạo là quan đầu triều thở dài than:
- Nước Vệ trong triều nhiều nhân tài quá, đâm ra chả còn việc gì mà làm, thiết triều mà hờ hững như không.

Tân đại thần tuyên huấn là Đường Thế Hoang  bước ra tâu:
- Thưa triều đình, nhà Sản đã có tiên đế làm Cha của cả nước bấy lâu nay, xưa mải chuyện chiến chinh rồi xây dựng đất nước, ta chưa tìm Mẹ cho nhân dân. Khiến Cha già bao năm đơn côi, lẻ loi. Nay nước nhà đã dư dả của nả, đất nước thanh bình. Xin suy tôn Mẹ già cho dân tộc, cho âm dương thuận hòa để phúc lộc cho con cháu.

Triều đình ai nghe cũng lấy làm có lý, hối hả bàn chuyện dựng huyền thoại, xây tượng đài ước tính tốn hết 1, 2 triệu lạng vàng.

Số tiền cũng lớn, khiến nhiều kẻ băn khoăn. Có người can nên để tiền đó dùng việc thiết thực hơn, lời qua tiếng lại đến tai Đường Thế Hoang. Hoang đập bàn quát:
- Thiên hạ tầm bậy, chỉ bàn chuyện đâu đâu, chỉ nhìn cái trước mắt mà không thấy cái lâu dài, không nhận thức được tầm quan trọng xây tượng đài có ảnh hưởng đến hình ảnh của nhà Sản ta. Xây dựng một tượng đài là xây dựng một huyền thoại, mà huyền thoại gắn liền với nhà Sản để mãi dấu ấn cho con cháu sau này thì không giá nào cũng là rẻ cả.

Nói xong Hoang soạn sắc, truyền đưa xuống học đường.

Có một thày giáo đi xa, về không kịp nhận sắc bộ tuyên huấn cứ theo giáo án cũ dạy sử cho học trò rằng:
- Ngày xửa ngày xưa thủy tổ người Vệ được hình thành từ một bọc trứng. Bọc trứng này do Rồng và Tiên lấy nhau sinh ra ...

Học trò có đứa con nhà tuyên huấn, đem chuyện này thưa lên trên. Thầy giáo nọ bị khép tội xuyên tạc lịch sử, triều đình xét lần đầu vi phạm, đày đi có hai mươi năm.

Mấy trăm năm sau, ở nước Vệ kể rằng truyền thuyết nguồn gốc dân tộc như sau: Ngày xưa có một Cha già lấy một Mẹ già, đẻ ra một bọc trứng có màu đỏ. Đến khi trứng nở thành một trăm bảy mươi nhăm người. Những người này khai phá đất hoang, mở mang bờ cõi, xây dựng nên nhà Sản hùng cường, đó là tổ tiên của người Vệ ngày nay.

Đại Vệ Chí Dị 37

Nước Vệ có trăm họ, hơn 56 dân tộc anh em trải dài từ miền núi xuống miền biển.

Năm Tân Mão đời Vệ Kính Vương thứ nhất, triều nhà Sản thứ 66.

Tại kinh thành nước Vệ từ mùa Hạ đến đầu mùa Thu, dân chúng và trí sĩ nước Vệ tụ lại đến vài trăm người kéo nhau xuống đường phản đối nước Tề âm mưu xâm chiếm, thôn tính Vệ.

Tề Bá Vương nghe tin ấy, mới hội quần thần lại nói:
- Nay chư hầu phía Nam là Vệ có kẻ sinh lòng khác, không trị ngay  để lâu ngày sợ biến.

Nói rồi thảo chỉ dụ, cho người ngay đêm đi gấp sang Vệ gọi người nhà Sản sang báo cáo tình hình.

Nhà Sản nhận chỉ dụ, văn võ bá quan cúi đầu lạy tạ thiên triều ban chỉ, thắp hương, đốt trầm làm lễ mở dụ. Mở chỉ dụ thấy nói rằng việc để cho dân chúng tự ý tụ tập, tuần hành là thất sách. Cần phải cho người tinh thông sang Tề gấp để học hỏi thêm bí quyết. Kỳ thực là nhận lệnh mới. Nhà Sản họp bàn, sau chọn Phó đại soái Nguyễn Vượng đi chầu phương Bắc. Lựa gấp được ngày lành, Vượng sang Tề chầu kiến.

Tề Bá Vương quở trách Vượng:
- Vệ còn muốn làm chư hầu hưởng uy của Đại Tề ta không, nghĩ nước Vệ trăm họ, truyền thống lâu đời. Thương cái ấy mà không muốn nhập vào làm một huyện. Để riêng một cõi mà trị có được cái danh, thế mà có việc cỏn con cũng không giữ gìn được an ninh, trật tự. Phải để Đại Tề bận trăm công, nghìn việc vẫn phải để tâm. Nếu không được thì để nhập vào châu Quảng cho rồi.

Vượng nghe biến sắc mặt, cúi đầu dập trước sân rồng, không dám ngẩng đầu lên nhìn mặt thiên tử. Tề Bá Vương thấy thế, biết là có lòng e sợ, mới nguôi dạ nói rằng:
- Thôi việc đã thế, về làm cho chắc chắn, đừng để tái diễn nữa.

Vượng rối rít hứa hẹn liên hồi. Tề Bá Vương mới gọi lại gần ân cần hỏi:
- Nước Vệ có trăm họ, việc thuyết phục bá tính đương nhiên là khó khăn, chỉ cần gom lại đổi thành vài ba họ lớn thì mới dễ dàng được.

Vượng vái dài tâu:
- Xin đại vương chỉ cho những kẻ mông muội được thấy ý sáng thiên triều soi tỏ.

Tề Bá Vương nói:
- Việc này đã làm rồi, không phải ngày một, ngày hai mà xong, muốn thông suốt hơn thì phải lập trạm liên lạc khẩn để còn nhận chỉ dụ, theo sát tình thế. Cụ thể thế nào đại thần Tề sẽ có người nói với người, giờ cứ nghỉ ngơi, thăm thú non xanh, nước biếc, phồn hoa của thiên triều mở mang con mắt.

Vượng cùng tùy tùng ăn chơi, tiệc hội mấy hôm, lúc sắp về, đại thần Vệ là Ngựa Trời gọi riêng Vượng vào phủ , kéo đến phòng riêng hỏi:
- Nước Vệ có bao nhiêu họ?

Vượng thưa:
- Nước Vệ cả thảy có gần trăm họ, những họ đông thì có Nguyễn, Lê, Trần, Hoàng, Phạm, Vũ ... ít thì có Dương, Bùi, Mạc ...

Ngựa Trời thở dài:
- Nhiều họ thế, bảo sao không quản được, muốn quản được dân chúng, phải gom bá tính thành một vài họ lớn mới dễ trị, cái này thiên tử đã dặn ngươi, có hiểu được ý không?

Vượng lắc đầu, Ngựa Trời vẫy lại gần nói:
- Chỉ cần gom bá tính lại, đổi thành vài họ, như họ Khiếp, họ Nhược, họ Cơ là xã tắc yên lành. Những kẻ làm quan thì lấy họ Cơ. Những kẻ trí sĩ, nhân tài có hiểu biết cho mang họ Nhược, còn dân đen lấy họ Khiếp. Những kẻ nào không mang họ ấy, tất là bọn chứa mầm mống phản loạn. Phân định được như thế, xác định rõ đối tượng, kẻ thù mới dễ trị.

Vượng về nước, đem lời Tề chỉ bảo y nguyên lại cho triều nhà Sản.

Mùa Thu năm Tân Mão, nhà Sản cho công sai đi rà soát, uy hiếp ngày đêm mọi nhà. Kẻ nào cứng đầu không chịu đổi họ, này bị triệu lên phủ, mai trát gọi đến chỗ làm, trăm đường điêu đứng.

Hàng ngày công sai nhà Sản đi lùng sục giữa các phố phường, thấy quán xá, vườn hoa nào đông người là xộc tới hỏi danh tính. Kẻ nào họ Khiếp, họ Nhược thì không sao, những kẻ mang họ khác đều bị bắt lên xe bát mã một đống về phủ trị tội.

Riêng họ Cơ là họ nhà quan, có dấu ấn riêng không bị xét hỏi. Họ này từ vua chúa nhà Sản đều dùng, như Cơ Nông Cường, Cơ Nguyễn Bạo, Cơ Nguyễn Kính, Cơ Nguyễn Vượng .....

Nước Vệ yên bình, ít họ thì yên, lắm họ thì loạn. Người Vệ không thích đa nguyên, đa họ là thế. Sau này nước Vệ có nhiều người thích dùng cả họ trên cho đầy đủ.

Họ Cơ Khiếp Nhược từ đó có trên đất Vệ.

Đại Vệ Chí Dị 36


Nước Vệ, triều nhà Sản năm thứ 66.

Nước Vệ bây giờ chính sự ổn định, phía bắc hòa hiếu với Tề, mở rộng quan hệ bốn cõi, vị thế ngày càng vươn cao, vua sáng tôi hiền, dân chúng hiền lành thuận hòa làm ăn chăm chỉ, của cải sung túc.

Lễ hội hoan ca khắp nơi. Năm ấy triều đình mở cuộc kén chọn nhân tài, quan lại nhà Sản toàn những người hiền đức ra phò giúp xã tắc.

Mùa thu năm Tân Mão, đời Vệ Kính Vương thứ nhất, tể tướng là Bạo nắm quyền chính sự trong triều. Bốn phương phẳng lặng yên bình.

Giá vàng tăng cao, giá đất xuống thảm hại, thiên hạ tranh nhau đi mua vàng tích trữ, đổ xô bán đất.

Vàng là thứ không sinh lợi. Đất là thứ có thể canh tác, trồng trọt, mở tiệm sinh lợi trông thấy.

Người ta bỏ cái sinh lợi để giữ cái không sinh lợi, bởi cái không sinh lợi dễ cất dấu trong mình, ấy là chỉ phòng khi loạn lạc.

Giặc cướp nổi lên khắp nơi, giết người cướp của tàn ác, trẻ sơ sinh cũng không tha. Các băng đảng trong giang hồ tranh giành đâm chém nhau liên miên, bệnh nhân giết thầy thuốc, rồi công sai giết nghi can. Hỗn loạn vô cùng, mạng người Vệ như rơm rác, chỉ đụng xe ngoài đường, va nhau trong tửu quán là có cớ giết nhau được rồi.

Chính sự ổn định bởi các quan lại nhà Sản một lòng gánh vác, tu dưỡng đạo đức. Thế nhưng dân chúng vốn hám lợi, thiếu nhân cách, thành ra trên thì yên mà dưới thì loạn.

Chẳng ai giải thích được vì đâu nên nỗi, dân Vệ vốn thuần hậu mà giờ đối xử với nhau tàn tệ như vậy. Mặc dù triều đình ra sức phổ biến học tập tâm gương đạo đức tiên đế, tổ chức nhiều cuộc từ thiện cho trẻ em chất độc màu da cam, học trò tình nguyện ... nhưng cũng chẳng làm giảm bớt cái thác loạn, sống gấp, chỉ biết đến mình, ích kỷ của người Vệ.

Bấy giờ ở Quê Choa, có một văn sĩ, ngày đêm đau đáu cảnh tương tàn, mới bỏ công đi tìm nguyên cớ. Sau nhiều ngày ngiền ngẫm ông mới phát hiện ra, mọi sự đều từ nước Tề mà ra cả.

Mươi năm về trước, nước Tề chủ trương thôn tính Vệ trong một cuộc chiến gọi là ''nắm đấm bọc nhung''. Hai nước bang giao, Tề vời nhiều quan lại, trí sĩ cốt cán của Vệ sang Tề học tập kinh nghiệm, các vị này sau về lại Vệ đều làm quan to cả. Họ Vũ có bằng tiến sĩ, tên là Tông, người đất Vĩnh bản chất ôn hòa, thường nhả ngọc, phun châu làm thơ ca ngợi cái đẹp, năm nọ được Tề mời sang chiêu đãi bữa tiệc rắn, Vũ Thông sau đận đó về thay đổi bản tính, đúng 12 năm sau trọn một con giáp, Vũ Tông từ kẻ hiền lành bỗng tráo trở tuôn ra những lời độc địa, rèm pha nhân sĩ trong nước, vu vạ người hiền lương một cách trắng trợn.

Bấy giờ người trong thiên hạ mới bàng hoàng tỉnh ngộ, điểm lại những sự việc xảy ra liên tiếp mấy năm gần đây. Cứ kẻ sĩ nào dèm pha Tề y rằng bị trị tội tàn khốc, từ Phạm cô nương, Cù tiên sinh, cặp song Hải miền Nam ...nay đến các kẻ sĩ chống Tề đều ngấp nghé vòng lao lý.

Nhân dân dùng thực phẩm, thuốc men của Tề nhiều năm, sinh ra lắm bệnh tật hiểm nghèo. Người người xếp hàng vào viện. Kẻ lành mạnh thể xác thì thú tính trong người nổi dậy, hiếp dâm cụ già, trẻ em, đâm chét, giết chóc dễ như trở bàn tay. Ấy đều do dùng hàng Tề, đọc sách Tề mà thành vậy.

Các quan lại đua nhau hướng về phương Bắc ngợi khen Tề. Quan khen nhiều thăng tiến lên chức vùn vụt.

Nước Vệ sở dĩ còn được niềm tin dân chúng rằng nhà Sản không lệ thuộc vào Tề, bởi dân Vệ tin rằng quân lính nhà Vệ không bao giờ khuất phục trước sức mạnh của Đại Tề. Dù tận mắt chứng kiến bao cảnh rõ ràng, nhưng người Vệ vốn cả tin vẫn một lòng, một dạ đinh ninh quân lính Vệ một lòng trung với nước, không có gì mua chuộc được.

Đại Tề nhìn xa biết vậy, mươi năm trước mới xui nhà Sản rằng: Hiện nay hai nước bang giao, trong những nước tiếp giáp biên giới với Vệ, chỉ có Tề là mạnh nhất. Vậy Tề Vệ đã ký giao ước huynh đệ. Giờ cần chi quân đội để bảo vệ nước nữa, chi bằng bảo vệ triều đình có hơn không. Nhà Sản nghe bùi tai, bèn đổi lời thề quân đội từ trung với nước sang trung với Sản. Quân nhà Vệ thấy hòa hiếu bang giao hai nước, cũng mở cở trong bụng, bỏ binh khí tập luyện, giáo mác han rỉ trong kho. Từ tướng đến các cấp đội trong quân chỉ chăm chăm kiếm chác lo cho bản thân.

Người Vệ vẫn cứ tin vào quân đội.

Ngày nọ, họ Nguyễn tên Vượng, vốn dòng dõi danh tướng nhà Sản nối nghiệp cha theo đuổi nghề binh, leo đến chức phó đại tướng toàn quân. Vượng đa mưu, túc trí, mặt mũi sáng sủa, mũi rồng, miệng hổ, mắt chim ưng, đi đứng khoan thai, tiếng nói rõ ràng, mạnh lạc. Lúc đăng đàn bái tướng, Vượng khẩu khí oai hùng, thể hiện thay cho toàn quân Vệ một lòng, một dạ sống chết với nước Vệ.

Người Vệ càng tin quân đội hơn.

Mùa thu năm Tân Mão, Vượng kinh lý sang Tề. Tề đối đãi tiếp đón và hứa hẹn gì không rõ. Vượng quả quyết với Tề rằng:
- Tiếp tục nghiêm trị những kẻ trong nước Vệ tư tưởng còn hoài nghi vào tình bang giao hai nước Đại Tề và Vệ.

Đại Tề long trọng ban cho Vượng lời giao ước: Nước Tề không bao giờ xâm chiếm một tấc đất nào của Vệ.

Vượng được câu ấy, đem về nước là chiến công đầu trong đời cầm quân. Giữ cho lãnh thổ toàn vẹn mà không mất giọt máu, đi sứ như thế nghìn năm nay nước Vệ chưa có ai làm được.

Lúc Vượng về rồi, đại thần Tề mới xúm lại hỏi Tề Bá Vương sao lại giao ước thế. Tề Bá Vương vuốt râu cười nói:
- Ta chiếm đất của Vệ, còn gì là tình nghĩa anh em, nay Đại Tề là nước lớn, phải làm gương cho thiên hạ thấy chúng ta quang minh lỗi lạc. Chỉ mong giữ yên bờ cõi để phát triển thuận hòa với mọi nước trong thiên hạ. Nay bờ cõi ta trên biển trải dài đến đảo Tây Sa, Tam Sa, các ngươi hãy chăm lo rèn luyện quân lính để bảo vệ giang sơn, tấc đất của Đại Tề, ta không lấy của người vì như thế là mang tiếng ác, nhưng cũng không để bất cứ kẻ nào lợi dụng hòa hiếu mà lấy đất của ta, như thế uy danh Đại Tề ta làm sao mà còn trong thiên hạ.

Lại nói về văn sĩ ở Quê Choa và các nhân sĩ khác trong nước Vệ, đoán biết được nọc Tề, nhưng nọc đã ngấm khắp nơi. Họ một lòng đi tìm phưỡng thuốc chữa trị nọc Tề.

Nhà Sản ra lệnh cấm, lệnh nói rằng kẻ đi tìm thuốc thực sự là chỉ mượn danh nghĩa ấy mà có những mưu đồ, riêng tư, cá nhân nhằm gây thiên hạ rối loạn, phá hoại tình hữu nghị Tề và Vệ, tội này ngang tội phản quốc.

Nhân dân nước Vệ, một lần nữa lại tin theo.

Năm đó, nước Vệ thái bình, vua mắt vẫn sáng, tôi tính vẫn hiền.

Đại Vệ Chí Dị 35

Nước Vệ triều nhà Sản, mùa thu năm Tân Mão đời Vệ Kính Vương thứ nhất.

Ở phía núi Bình có trẻ em đầu thai.

Dưới miền biển, thầy thuốc bị người nhà bệnh nhân sát hại.

Giữa kinh thành, đường trũng thành ao, bốn trẻ nhỏ sa xuống ao đó mà chết.

Giá thực phẩm tăng không ngừng.

Nhà Sản tuyên truyền rằng xã hội đang ổn định dưới sự cai trị của triều đình, dân tình không việc gì phải âu lo, cứ vui chơi, hưởng lạc cuộc đời.

Bấy giờ ở giữa chợ, có người vào quán rượu nói:
- Thiên hạ thái bình, bốn cõi êm ấm, thế nhưng nhiều chuyện quái lạ vẫn xảy ra trong thiên hạ là sao?

Người khác hỏi:
- Chuyện quái lạ là sao?

Người kia bảo:
- Nhiều không kể xiết, đi xe đụng nhau, rút dao đâm chết. Tiệc tùng say sưa va chạm cũng rút dao đâm chết, rơi tàn thuốc cũng kéo bè phái đến xô xát đâm nhau chết, chữa bệnh không dứt cũng rút dao đâm bác sĩ chết, sai nha bắt người về phủ hỏi cung rồi cũng đánh chết, vợ chồng, tình nhân hục hặc cũng giết nhau chết ... nước về ngày nay nhiều cái chết đến thật không ngờ. Thế không phải là chuyện quái lạ hay sao.

Có một cụ già đi qua, dừng lại nói:
- Thế còn chưa hết điều quái lạ đâu, ngày nay kẻ sĩ danh gia bao đời, bỗng chốc thành quân phản nghịch. Đang hưởng bổng lộc, ân sủng của triều đình, danh giá khắp thiên hạ, chỉ sớm mai thôi đã thành thế lực thù địch như Cù tiên sinh, Ngô tiên sinh và các cao nhân trong hội Bô Xít.

Những người nghe thấy đều thở dài than:
- Thật là quái lạ, mạng người chấm dứt nhanh như chớp giật vì chuyện không đâu, chỉ tích tắc là người trung trinh với nước đã thành phản nghịch.

Giá cả mở mắt mỗi ngày lại thấy lên, chuyện yêu ma, hồn vong khắp thiên hạ đâu cũng thấy. Lễ bái càng nhiều bao nhiêu thì chuyện vô tâm, bất lương càng nhiều bấy nhiêu. Có khi nào nước Vệ xảy ra cảnh cháy nhà bên trong có hàng chục người, mà bên ngoài thanh niên trai tráng chỉ khoanh tay đứng xem.

Ai nấy cũng ngậm ngùi, bỗng nhiên một viên thư lại từ phủ tống trấn kinh thành phi ngựa hộc tốc vào giữa chợ, dán một bản thông cáo rồi đi mất.

Mọi người lại xem, thì ra đó là bản thông cáo cấm bà con nhân dân tụ tập bàn chuyện yêu nước. Văn bản nói rằng giờ có nhiều thế lực thù địch đang lợi dụng chuyện yêu nước để  gây bất ổn trong xã hội, vì thế những kẻ nào tụ tập bàn chuyện yêu nước, thể hiện nhiệt huyết yêu nước sẽ bị xử lý nghiêm khắc.

Tất cả xúm lại đọc xong, chưa hiểu chuyện gì, cụ già vuốt râu nói:
- Các vị à, tất cả chuyện kỳ quái mà chúng ta vừa nói, có lẽ cái thông báo này là quái đản nhất.

Mọi người quây quanh cụ hỏi nguồn cơn, cụ già bảo:
- Cái thông báo này là để cấm những người yêu nước phản đối quân Tề xâm lược, lâu nay quân Tề xâm lược ngoài khơi. Nhà Sản vì muốn thiên hạ nghĩ mình cai trị tài giỏi nên dấu nhẹm chuyện ấy, những gì tốt đẹp thì họ kể để dân chúng cảm phục, ơn đức họ. Còn là những việc lạm phát, giết người, tham tàn, bạo ngược, mất bờ cõi biên cương thì họ dấu nhẹm. Hai tháng nay có nhóm người yêu nước, họ không chấp nhận chuyện ấy bèn tụ lại cứ bảy ngày một lần gióng trống, khua chiêng cảnh báo cho người trong nước hiểm họa mất nước do quân xâm lược phương Bắc. Triều đình sợ dân tình biết chuyện đó, mà có lòng phẫn uất, mới ra cái thông báo này, vu rằng có thế lực nào đó xúi dục, hòng lợi dụng để đàn áp cho chuyện mất lãnh hải không lan rộng gây trong nhân dân.

Mọi người nghe xong, ai cũng lắc đầu, có kẻ hiểu biết mới nói:
- Xưa nay thiên hạ thơ rằng
Mất mùa là tại thiên tai
Được mùa là bởi thiên tài Sản ta.

Nhân đây xin có thơ rằng:
Thế gian quái đản dị thường
Là do thế lực ngoài đường gây ra
Còn phường nhà Sản chúng ta
Một lòng trừ quỷ, bắt ma, đuổi tà

Kẻ ấy đọc thơ xong, mọi người nức nở hùa theo:
a ha a ha ô hô ai tai

Đại Vệ Chí Dị 34

Nước Vệ triều nhà Sản, năm thứ 66.

Mùa nước, nhưng con sông chính miền Bắc, miền Nam vẫn cạn kiệt, ruộng đồng khô hạn. Đất đai canh tác bán rẻ cho tư thương nước ngoài. Thóc lúa, thực phẩm khan hiếm, giá cả tăng từng ngày.

Bạo nắm quyền thiên hạ, thế nghiêng trời lệch đất, thâu tóm mọi quyền lực vào tay. Các quan trong triều đến nhân sĩ trong nước gặp Bạo đều phải cúi đầu không dám nhìn thẳng.

Lạm phát ngày một cao, người lao động đói khổ đình công. Triều đình bắt bớ, tầm nã những người đình công, còn bọn chủ nhân thế đó mà đánh đập, dùng xe tứ mã cán chết người đình công.

Công sai là cánh tay phải của Bạo, như kiêu binh ngày xưa tha hồ hoành hành ức hiếp dân kiếm chác, ăn hối lộ. Gặp người trái ý là đánh đập, có nhiều vụ dẫn đến tử vong. Giết xong vu là tự vẫn, đột tử.

Mọi thứ đắt đỏ, chỉ có mạng người và nhân cách là rẻ rúng.

Bấy giờ ở huyện Can, xứ Tĩnh có người họ Cù, cha ông mấy đời làm quan thanh liêm, phò trợ tiên đế, khai quốc công thần. Dòng họ nhà đó từ nơi phát tích đến kinh kỳ, danh tiếng đều lững lẫy thiên hạ. Đến đời Cù tiên sinh, tên chữ là Võ ức cảnh thế thời điên đảo, Võ tiên sinh bỏ áo từ quan, về nhà mở phòng cãi hòng bênh vực dân nghèo dưới thời mạt pháp.

Nước Vệ thời nhiễu nhương, kẻ sĩ theo nghề luật càng đi càng thấy rối rắm, bất công. Mười năm theo nghề, Võ tiên sinh hiểu được cái cốt lõi của việc, như người thầy thuốc bắt được căn bệnh. Với lòng tự trọng của người dòng dõi, Võ tiên sinh theo bước Chu tiên sinh ngày xưa dâng sớ lên triều Sản, đòi cải cách, xử các quan lại tham nhũng, ức hiếp dân chúng, lời sớ gang thép, khảng khái chấn động cả thiên hạ. Kẻ sĩ nước Vệ rùng mình tính giấc, ngóng theo hành động can trường của Võ tiên sinh. Uy danh của Võ bây giờ khiến người trong thiên hạ ai nấy cũng nể và cảm mến.

Nhà Sản không nhận ý kiến của Võ tiên sinh, bởi mọi cải cách, ý hay từ xưa đến nay là phải do triều đình ban ra, kẻ bên ngoài dẫu trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, đọc bốn ngàn cuốn sách, kinh thư làu làu, tài an bang tế thế cũng không bao giờ được trọng dụng. Bởi dụng ý người ngoài, hóa ra triều Sản xưa nay vẫn vỗ ngực là hội tụ tinh hoa trí tuệ bốn cõi, lại phải nghe lời người khác sao, hơn nữa bây lâu trót cả ngợi Bạo tể tướng là anh tài hiếm có, nghìn năm mới xuất hiện một lần, khắp thế giới đều công nhận. Nay lại có kẻ tài hơn nữa thì còn uy tín gì trong dân gian.

Lẽ đời thường không nghe thì phải giết, xưa kia Hàn Tín  dâng kế sách cho Hạng Vũ, Hạng không nghe, mưu sĩ Phạm mới nói: Hàn là người tài, nếu không nghe thì phải giết đi. Hạng cho rằng Hàn là kẻ hèn lính chấp kích, không bõ giết. Sau mới mang họa vào thân ở trận Bối Thủy vì tay Hàn. Nhà Sản lâu nay học chính sự từ Tề, chuyện này tất phải làm theo sách Tề dạy. Huống chi nay Võ tiên sinh danh lừng thiên hạ, không phải như Hàn Tín lúc bấy giờ.

Năm Canh Dần, triều nhà Sản thứ 65, đời cuối cùng, Vệ Cường Vương chỉ lo vơ vét, bỏ mặc chính sự cho Bạo. Nhân lúc đó tay chân của Bạo ở bộ Hình, lấy lòng chủ soái mới dùng kế gian dâm để vu họa Võ tiên sinh. Trước là đánh về mặt danh dự, để chia rẽ lòng người, sau bắt kết tội chống triều đình, tiếp nữa cho người lăng loàn rêu rao chuyện thi phi. Tiếp đó mang ra tòa xử tội, lúc xử không tranh tụng, cấm dân chúng xem. Xử xong nói rằng xử công khai, đúng người, đúng tội, dư luận đồng tình.

Dư luận nhìn nhau ngơ ngác, biết gì đâu mà đồng tình.

Nhà Sản sợ dân không tin, bèn chọn những cảnh trong tòa chép lại những cảnh quan tòa kết tội đưa cho dân chúng xem, lại cho bọn bồi bút chạy lăng xăng hô hoán thêm ai bênh Võ tiên sinh là thế lực thù địch mưu hại nhân dân. Cảnh tượng thật vừa ngao ngán vừa nực cười, ai cũng chả hiểu vì sao bỗng dưng có kẻ góp ý với triều đình, bị xử tù, người bênh vực lại thành thù địch cả.

Lúc này lạm phát, suy thoái, đổ nợ, dân chúng, triều đình nhìn nhau nghị kỵ, thấy đâu cũng là bọn thù địch. Kẻ sĩ nhìn triều đình là thù địch, triều đình bảo kẻ sĩ là thù địch, chỉ tội dân đen kém hiểu biết không biết tin ai, dưới lưỡi đao búa kề cổ, khối kẻ đành ừ à cho qua chuyện theo ý triều đình.

Nước Vệ hỗn loạn, càng thêm hỗn loạn. Kẻ thắt dây phải là kẻ mở dây.

Thế nhưng nhà Sản dưới thời Bạo, không làm điều theo luân thường. Ỷ mạnh ra sức đàn áp, vu vạ người lương thiện nhiều hơn.

Chẳng những mở nút trói, lại càng thắt thêm. Nước Vệ rồi sẽ về đâu?

Đại Vệ Chí Dị 33

Công sai bị đánh, nước Vệ xôn xao, báo giới đua nhau lên án kẻ đánh công sai, nào phải trừng trị nghiêm khắc, nào là đạo đức xã hội xuống cấp cần chấn chỉnh. Bọn tuyên huấn được dịp moi tiền lại vẽ ra những dự án cải tạo đầu óc nhân dân sao cho không thằng dân nào dám cựa lại công sai.

Có đứa con gái, tức giận lỡ tay bợp công sai một cái. Lập tức cả guồng máy pháp luật hoạt động nhanh chóng khẩn trương, báo giới thì la làng, quan lại thì tiến hành tố tụng, mới vài ngày đâu vào đấy cả.

Mới được dăm bữa, công sai đang thi hành nhiệm vụ bị kẻ khác dùng gậy sắt tấn công dồn dập, công sai chạy rồi, kẻ kia còn đến tận đồn trú tìm để tấn công tiếp, báo giới, thiên hạ lại được dịp la lối kêu về tệ nạn công sai bị đánh. Hóa ra là kẻ đánh cũng lại là công sai. Thế là im tịt.

Còn chuyện công sai mà đánh người thì sao? công sai đánh thì thường chỉ có chết, mà người đã chết mang đi chôn là hết chuyện. Công sai xứ Thanh giết cả người lớn lẫn trẻ em, bao lâu rồi cũng không thấy báo chí tin tức gì về xét xử, công sai kinh kỳ đánh chết Trịnh lão gia cũng vậy, vụ việc cứ im lìm. Còn ở phía Nam thì Nhật thư sinh chết trong phủ bị kêu là tự vẫn, duy có vụ ớ xứ Lạng Giang cũ do tranh chấp chức quan đầu tỉnh mà vụ công sai đánh chết người đầu tiên xác nhận là đột tử, sau chuyển thành gây thương tích mà kêu án.

Phàm những công sai bị đánh, dù nhỏ cũng được làm nhanh chóng. Còn vụ công sai đánh người thì lê thê lắm.

Bởi người ta nhận thức rằng công sai là người của triều đình, chuyện xác minh cần phải cẩn thận không như người thường được, giờ có lắm kẻ lợi dụng vu cáo.

Thế cho nên nếu có người kiện công sai đánh người, quan thụ lý triệu lên phủ hỏi cặn kẽ rằng:
- Ai soạn đơn này?
- Tôi
- Soạn ở đâu?
- Nhà
- Soạn đơn bằng cái gì?
- Giấy bút
- Giấy loại gì?
- Loại a
- Mua giấy ở đâu ?
- Ở hiệu
- Mua lúc nào ?
- Hôm kia
- Mua bao nhiêu tiền ?
- 2 hào
- Tiền ở đâu ra mua giấy?
- Tiền tôi
- Thế lương tháng được bao nhiêu mà dư tiền mua giấy, chứng minh xem nào? khoản nào sinh hoạt, khoản nào xe cộ, trà thuốc, gia đình?

Người làm đơn liệt kê hì hụi mất 3 ngày, trình quan xong. Quan hỏi:
- Thế lúc soạn đơn có ai bên cạnh không ?
- Không
- Thế ai làm chứng là ngươi tự soạn đơn này?
- Tôi
- Thế lúc xảy ra sự việc ngươi ở đâu?
- Ở đó
- Ngươi ra đó làm gì, đang giờ làm việc, ngươi mò ra chỗ đó có ý gì ?
- Tôi thấy việc ở đó là việc chung của mọi người, cho nên tôi ra đó xem
- Bao nhiêu người không ra, cơ quan ngươi không ai ra, vậy sao mỗi mình ngươi ra.?
- Họ không ra là việc của họ, tôi ra là việc của tôi ?
- Việc của tôi là việc gì?
- Vì tôi quan tâm đến đất nước .
- Việc nước có nhà Sản lo rồi, người không lo thân ngươi, ra đó phải chăng muốn nhân sự làm rối ren thêm?
- Thế ngươi ra đó bằng gì?
- Đi xe
- Xe của ai?
- Của tôi
- Gửi xe ở đâu?
- Ở hiệu bán giải khát.
- Lúc đó có ai làm chứng là ngươi có mặt ở đó không?

Người khiếu nại:
- Giờ tôi làm người làm chứng, quan lại bắt tôi đi tìm người làm chứng là tôi ở đó chứng kiến nữa, rồi quan lại hỏi người đó vì sao ở đó làm chứng, rồi ai làm chứng cho người đó làm chứng tôi đang chứng kiến sự việc. Chứng và chứng như vậy đến bao giờ?

Quan đập bàn:
- Ở đây chỉ có tao mới có quyền hỏi, mày không được phép hỏi tao.

Người khiệu nại hết nhẫn nại, đã tuần này từ khi gửi đơn khiếu nại về việc thấy công sai đánh người, anh bị quan trên gọi liên tiếp triền miên. Chịu không nổi anh hặc lại quan:
- Tại sao tôi khiếu nại việc công sai đánh người, quan không điều tra về việc đó, lại cứ điều tra tôi.

Quan cười nham hiểm:
- À đây là đang điều tra cả đấy, phải xét người làm đơn có công tâm không? Có ai xúi giục không? Sau đó mới tiếp tục đến việc khác, làm gì cũng phải có trình tự chứ. Nếu ngươi là người có lòng tốt, muốn xã hội tốt đẹp hơn vì việc chung, mà ngươi lại nề hà dăm ba tháng bỏ thời gian ra làm việc với bản phủ, vậy chả phải ngươi không có lòng mà có ý gì chăng? Nếu có lòng ngươi đâu phải sốt ruột, việc như ta nói rồi, cũng phải qua từng giai đoạn, làm là phải cẩn thận, không thể bỏ qua tình tiết, giai đoạn được. Thôi hôm nay ngươi vội thì ta gia ơn cho về, hai hôm sau lên đây làm việc tiếp.

Người làm đơn giãy nảy:
- Tôi đi lại phủ cả tháng nay, kẻ đánh người nhởn nhơ ngoài kia, trong khi tôi bỏ công, bỏ việc hàng ngày đến đây làm việc. Xin quan làm cho nhanh tôi còn phải đi kiếm ăn.

Quan gằn giọng:
- Ai bảo người làm đơn, ta mới phải làm việc với ngươi, ngươi không làm thì ai gọi ngươi làm gì?

Người làm đơn tạm về, hai hôm sau anh đang đi làm, công sai đến gọi thủ trưởng anh ra, kêu là phải cho anh đi làm việc với triều đình. Anh đi rồi, các công sai khác mang giấy tờ đề nghị thủ trưởng anh khai các hoạt động kinh doanh, thuế má, nhân lực .....

Tháng sau cứ tiếp diễn như vậy, anh chán quá không đi nữa.

Quan trên kết luận hồ sơ rằng:
- Do người làm chứng không tiếp tục làm việc, cho nên chứng cứ công sai đánh người là không rõ ràng. Bởi vậy không thể khởi tố vụ án này. Ngoài ra cần đề nghị triều đình cấp thêm kinh phí để điều tra kẻ làm đơn có ý đồ gì không? Để có biện pháp giáo dục, trấn áp phòng ngừa lần sau và phòng ngừa những kẻ khác có ý đồ tương tự.

Đại Vệ Chí Dị 32

Nước Vệ triều nhà Sản năm thứ 66.

Mùa Hạ quân Tề liên tiếp gây hấn ngoài bể Đông

Nhà Sản mải lo chuyện sắp xếp quan lại đại thần, lờ đi chuyện ngoài khơi

Bấy giờ đám nhân sĩ, trí thức ở kinh thành không chịu nổi cảnh nguy cơ mất nước cứ đến từng ngày, mà thiên hạ từ triều đình đến dân đen cứ tảng lờ như không. Đám nhân sĩ cực chẳng đã, phải cùng nhau đi tuần hành giăng biểu ngữ báo động thiên hạ biết chuyện trọng yếu ấy.

Mùa Hạ nước Vệ mưa nhiều, lạ một  điều đến ngày mà đám nhân sĩ dự định tuần hành, trời quang mây tạnh.

Công sai Vệ bắt người tuần hành thô bạo, khiêng như khiêng lợn, lấy chân dậm vào mặt người bị bắt.

Tưởng thế là gửi được lời cảnh cáo đến nhân dân. Ý rằng đối với bọn tao, chúng mày chỉ là con vật, đáng di chân vào mặt. Nào ngờ hành động ấu trĩ gây phẫn nộ ngay cả trong cựu quan chức triều đình đến nhiều sĩ phu khác. Lần sau đám người đi tuần hành lại còn đông hơn.

Bạo vẫn được nắm quyền tể tướng, các quan đại thần quanh đi quanh lại toàn gương mặt cũ. Chỉ hoán chỗ này sang chỗ kia. Danh sách các quan nhà Sản đưa lên, dân chúng ai cũng thở dài. Lạm phát ngày càng phi mã, giá cả khiến người dân rối trí, mọi thứ làm ăn trì trệ. Ngoài khơi Tề quấy nhiễu.

Bấy giờ các chức vụ đã yên, nhìn thấy cảnh rối ren, một số đại thần vừa lên chức trọng, than rằng:
- Cứ loạn thế này, kiếm ăn sao nổi.
- Bao năm chạy chọt, giờ được cái quyền, mà thời này dân chúng lắm lời, động bán cái gì chúng cũng nhao nhao.
- Cái bọn dân chả ngoan ngoãn như xưa, chỉ nhằm gây bất ổn. Ngày càng tệ.

Các quan họp lại, bàn chuyện làm sao để dân chúng ngoan ngoãn. Tuy đã bắt bớ, xét xử nhiều đứa nhưng chẳng ăn thua, bọn nhiễu sự mọc lên như nấm sau mưa rào. Đến đại thần chuyên gia chiến lược ở bộ Hình mới lên cũng đau đầu chưa rõ căn bệnh để trị đám này.

Đang lúc băn khoăn, rối bời các quan đại thần nhà Sản đi cầu cứu các nhà tâm lý học, xã hôi học hỏi nguồn cơn. Có vị sử gia nói rằng:
- Từ xưa đến nay, nước Vệ trải qua bao nhiều triều đại. Đến thời kỳ nào mà có hôn quân, bạo chúa là một, hoặc dựa dẫm làm tay sai cho ngoại bang là hai. Y rằng là nước loạn. Tránh được hai điều ấy thì thiên hạ không dẹp mà tự nhiên an định. Còn bằng không càng dẹp càng loạn mà thôi.

Các quan nghe xong, người hướng về thái miếu nhà Sản, người ngoảnh về phương Bắc cùng than:
- Thế khác nào đánh đố.

Về họp với nhau rằng, hai điều mà sử gia nói, gác lại đến nhiệm kỳ sau sẽ bàn. Còn nhiệm kỳ này để ổn định đất nước, trước mắt cứ gia tăng bắt bớ, xét xử dồn dập thị uy dân chúng.

Sang đến mùa thu, nhà Sản đem hai vị trí thức ra xử cách nhau có mấy ngày.

Trong đó có Cù Tiên Sinh, con của cựu đại thần và Phạm Chí Sĩ.

Bọn báo giới theo lệnh, ùa nhau viết bài, ám chỉ với nhân dân rằng, đấy những người như thế còn bị xử, huống chi là tụi dân đen.