Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2012

Đại Vệ Chí Dị 45

 


Nước Vệ triều nhà Sản, năm thứ 67, đời Vệ Kính Vương năm thứ hai.

Kinh tế sa sút, hàng loạt các nhà buôn, chủ xưởng vỡ nợ. Vụ án huyện Lãng thành Hoa Cải Đỏ nhùng nhằng chưa dứt. Cứ ngỡ tể tướng Bạo quyết xong, nhưng quan lại thành Hoa Cải bấy lâu vốn xưng hùng một cõi. Sản vật, thuế má cống nạp về triều bao năm nay đâu ra đấy, bèn ỷ công đó mà trây ì chưa quyết xong án xứ Lãng. Đã thế quan đầu tỉnh lại họp các bô lão bao biện rồi trách móc đại lão thần, dư luận cứ hối thúc thiên vị, làm cả nước mất tập trung , chểnh mảng chuyện làm ăn khiến cho giá cả mọi thứ tăng vọt.

Vệ Kinh Vương kinh luận cái thế, bụng chứa ba vạn sáu nghìn chữ, thuộc làu sách thánh hiền, nhìn rõ bản chất sự việc. Ngày nọ đầu năm mới triệu tập đại hội quần thần, chấn chỉnh tư tưởng, đạo đức và lề lối cai trị của quan lại vào quy củ. Vương nghị luận đanh thép, chỉ rõ những việc cấp bách phải làm, liên quan đền sự tồn vong của nhà Sản. Quần thần ai nấy đều kính phục, toàn dân, toàn quân, toàn quan lại nhiệt liệt tán thành. Quyết tâm khi thế cải cách, loại bỏ những sai lầm được tất cả quần thần ủng hộ.

Dân ngoài chợ bàn nhau, người hào hứng nói:

- May mắn thay nước Vệ còn có minh quân, vạch rõ những yếu huyệt của quan lại như tham nhũng, xa hoa, bất tài, suy thoái đạo đức, kết bè, kết cánh, độc đoán.

Người khác hớn hở nói:

- Trước hết muốn trị bệnh phải nhìn rõ bệnh, lần này triều đình ta đã công khai chuẩn bệnh. Bước đầu đã suôn sẻ, chỉ còn việc trị bệnh là xong. Đúng thuốc, đúng bệnh lo gì không khỏi.

Bấy giờ có kẻ lang thang đi qua, thò đầu vào đám đông nói:

- Ối dào, bệnh có gì đâu, tôi đi khắp bốn phương, tám hướng, Tần, Sở, Tề, Ngụy... nơi nào chả có chuyện quan lại tham nhũng, bất tài, vô đạo. Thế mà nước họ vẫn cường thịnh đó thôi.

Một người gắt:

- Ngươi thì biết cái gì ? Đành rằng ở đâu cũng có người thế nọ, thế kia, nhưng ít hay nhiều mới là quan trọng. Nước người ta 100 vị quan có vài tên tham nhũng, bất tài, vô đạo. Chuyện đó không nhiều nên mới không quan trọng.

Kẻ lang thang cự lại:

- Ở nước ta thì cũng thế, đâu có nhiều tham quan, vô đạo đâu ?

Người khác nạt nộ:

- Dựa vào đâu ngươi bảo không nhiều, nếu không nhiều thành vấn đề nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự tồn vong của triều đình thì làm gì phải triệu đại hội quần thần chấn chỉnh.?

Kẻ lang thang xin miếng nước, uống xong bát trà xanh, hắn ngồi trên càng xe bò giữa chợ thủng thẳng rằng.

- Xưa Ung Chính nhà Thanh lên ngôi, ban hành chấn chỉnh quan lại tham ô. Khi dự luật đã bị nhiều kẻ ngáng trở, lúc luật ban rồi quan lại mặt mũi đa phần rầu rĩ. Ấy là bởi họ chính là những bị thiệt hại về luật mới ban ra, thái độ mới như thế.

Nay nhà Sản chúng ta, ban hành luật mới trị tham ô, bất tài, vô đạo mà như lời Vệ Kính Vương nói thì toàn bộ đại thần quan lại các cấp đều hớn hở, vui tươi, tán thành nhiệt liệt. Chả phải suy ra thì toàn bộ số ấy đều là trung thần, hiền đống, thao lược cả, cho nên mới hào hứng vậy. Đâu phải như lũ tham quan, vô đạo thời Ung Chính mà phải buồn rầu, lo lắng. Người ta nói cây ngay không sợ chết đứng là vậy.

Mọi người nghe xong lặng thinh suy ngẫm, rồi lác đác có kẻ gật gù tán thành. Một người nói:

- Có thể đúng là nước Vệ nhà ta, các quan lại đều trung chính, đức độ cả. Cho nên đông đảo mới tán thành hăng hái với chấn chỉnh của Vệ Kinh Vương.

Người khác hoài nghi chêm vào:

- Nhưng chẳng lẽ quan lại chúng ta tốt thế, lại ra luật chấn chỉnh là sao ?

Kẻ lang thang đứng dậy, rũ áo nói:

- Trong lời của Vệ Kính Vương có nhắc lại nhiều lời của Tiên Đế dạy quần thần cách đây mấy mươi năm. Bậc thánh nhân phải biết nhìn xa. Nay Vệ Kinh Vương học Tiên Đế, ban hành luật bây giờ để phòng xa mấy mươi năm sau, quan lại nhà Sản có tham nhũng, vô đạo thì người sau trị nước còn có lời dựa vào mà nghị tội. Phàm đã là quân vương phải có lời vàng ngọc để cho hậu thế vài đời sau còn có cái nhớ đến mình. Đấng anh minh trong lúc yên bình phải thấy lúc loạn lạc, nước Vệ ngày nay may thay có được Vệ Kính Vương biết lo cho mấy đời sau, thật là hồng phúc cho Đại Vệ.

Vệ Kính Vương chọn ngày đẹp, đứng giữa điện Kinh Thiên bố cáo luật. Bá tính nghe nuốt từng lời vàng ngọc anh minh, rồi nhất loạt tung hô.

- Hồng phúc, hồng phúc, đại hồng phúc

Quần thần trên điện bá vai, bá cổ thể hiện tình đoàn kết, cười ngặt ngẽo tỏ sự hân hoan tán thành sự thành công của luật quan lại, miệng nhất loạt tán dương rằng.

- Thành công, thành công, đại thành công.

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

Giải Nobel Hòa Bình 2012 cho Việt Nam, sao không thể?

February 8, 2012
Nguyễn Ngọc Già
Tác giả gửi đến Dân Luận
 
Trong lịch sử hơn trăm năm của giải thưởng danh giá – giải Nobel Hòa Bình (1) – khuyến khích và ghi nhận, đồng thời trở thành niềm cổ vũ lớn lao, cũng có thể coi như điểm tựa tinh thần mãnh liệt cho hoạt động vì hòa bình thế giới, người ta đã từng tiếc rẻ về trường hợp của Ngài Mahatma Gandhi, khi nhiều lần được đề nghị trao giải nhưng cuối cùng trước khi Ngài bị ám sát vào năm 1948, giải thưởng danh giá này vẫn không được trang trọng trao cho Ngài. Tuy vậy tư tưởng vĩ đại của Ngài đã trở thành luận thuyết khả thi cho nhiều dân tộc khác trên thế giới đấu tranh đòi hỏi nền tự do dân chủ bằng phương pháp ôn hòa, nhân ái, từ bi – có lẽ từ lý do đó mà nhân loại đã phong Ngài trở thành Thánh.


Lịch sử Nobel cũng gợi nhớ trường hợp ông Lê Đức Thọ được trao giải Nobel Hòa Bình năm 1973 để ghi nhận quá trình nỗ lực cùng ông Henry Kissinger cho ra đời Hiệp định Paris (2) nhằm chấm dứt chiến tranh, lặp lại hòa bình ở Việt Nam cũng như cho Đông Dương. Tiếc rằng, ông Thọ đã từ chối. Theo thời gian, hiện nay chẳng còn người dân Việt Nam nào cảm thấy khó hiểu về hành động từ chối này, bởi lẽ nó hoàn toàn logic với tư tưởng của người cộng sản – đấu tranh bằng bạo lực là phương châm duy nhất của họ để giành thắng lợi.


Nói không khéo, nếu việc nhận giải của ông Thọ xảy ra thì Hiệp định Paris bị phá vỡ sau đó sẽ trở thành chứng cớ tố cáo khó chối cãi về bản chất gian giảo, lật lọng của người CSVN trước toàn thế giới. May cho giải thưởng danh giá này không bị mất uy tín và rủi cho nhân dân Việt Nam khi vuột mất cơ hội được sống và làm lại từ đầu, xuất phát một khởi nguồn hòa bình sau quá nhiều máu đổ, xương phơi trên toàn cõi Việt Nam. Vô phúc cho nhân dân Việt Nam, khi đã trôi tuột một Nhà nước pháp trị được xây nền từ hòa bình, văn minh bởi những lời thỏa thuận ở cấp quốc tế và quốc gia. Quả đáng tiếc và bội phần cay đắng khi nhắc lại Hiệp định Paris mà người việt Nam cứ ngỡ sẽ là hiện thực sau đó.


Nhắc lại thêm đau thương, ôn lại thêm tủi hổ. Tất nhiên, tủi và đau ở đây, trước hết cho ngay người CSVN, khi có vẻ chính họ đã vì tham vọng điên cuồng, mê muội biến cả Việt Nam, Đông Dương trở thành “tiền đồn XHCN” phục vụ cho Liên Xô và Trung Quốc thực hiện nhuộm đỏ cả thế giới! Ôi! Cái “thế giới đại đồng” do người CS huyễn hoặc đặt ra, giờ đã tan tành mây khói!


Ngày cha tôi còn sống, ông và “đồng chí” của ông hay bàn tán về Hiệp định Paris và tôi nghe lõm được (tất nhiên không biết thực hư ra sao, nhưng tôi tin 8 phần thực) rằng: Ông Lê Đức Thọ từ chối giải Nobel do yêu cầu từ “ngoài” cho đến “trong”, nghĩa là từ Trung Quốc, Liên Xô cho đến Việt Nam (tất nhiên là miền Bắc lúc bấy giờ). Bởi lẽ, cha tôi nói có 2 lý do chính:
- Nếu nhận giải thì coi như “chúng ta” đã dính bẫy Mỹ và “bè lũ”. “Chúng nó” gài “chúng ta” bằng cái giải uy tín như thế làm sao “chúng ta” thực hiện ý đồ của mình?! Bởi Mỹ và chư hầu phán đoán Hiệp định Paris có thể bị lật lọng, tráo trở, nên gài “chúng ta” bằng cái giải danh giá đó, để nếu “chúng ta” có phản pháo thì khó bề ăn nói với thế giới, tất nhiên chẳng ai ủng hộ chúng ta cả, ngay cả dân Mỹ cũng thế, mọi việc sẽ càng dễ bị…lột mặt nạ (!)
- “Chúng ta” luôn giữ đúng phương châm “vừa đánh vừa đàm”. Đàm thì cứ đàm, nhưng đánh thì chọn đúng thời cơ cũng như đảm bảo “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”.


Tôi không biết có bao nhiêu người đồng tình với 2 lý do trên, riêng tôi, tôi thấy đúng, đúng với bản chất người Cộng sản.
Giải Nobel Hòa Bình 2012 cho Trần Huỳnh Duy Thức và Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ,  sao không thể?
Giải Nobel Hòa Bình 2012 cho Trần Huỳnh Duy Thức và Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, sao không thể?


Vừa qua, theo loan báo của đài RFA và VoA, bà Loretta Sanchez – dân biểu Mỹ và phóng viên Ỷ Lan (đài RFA) thực hiện cuộc phỏng vấn dân biểu Ramon Tremosa I Balcells – Châu Âu (3), cả hai vị này đều lên tiếng đề nghị và ủng hộ trao giải thưởng uy tín – giải Nobel Hòa Bình cho người Việt Nam – Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ – nhà đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền trong nước không mệt mỏi suốt gần 40 năm qua. Đó là một tin rất đáng mừng cho người Việt Nam. Nhiều người vẫn không quên Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ (4) đã từng nhận giải tưởng niệm Thorolf Rafto năm 2006 và là một người được đề cử cho giải Nobel Hòa bình nhiều lần, tuy vậy cho đến nay giải thưởng cao quý đó vẫn chưa đến tay Ngài. Nhắc điều này để mọi người chúng ta càng tiếc rẻ cho Ngài Mahatma Gandhi, khi chính ủy ban trao giải Nobel cũng đã từng tiếc nuối khi cho đến lúc Ngài Mahatma Gandhi bị ám sát giải thưởng này vẫn bỏ quên Ngài. Tất nhiên, những bậc vĩ nhân chẳng bao giờ quan tâm đến những giải thưởng gì khác, hơn là phần thưởng to lớn mà các Ngài hằng khát khao: Dân chủ, tự do, nhân quyền cho chính dân tộc mình và cho nhân loại.


Không có gì phàn nàn hay đắn đo khi người Việt Nam trong và ngoài nước cùng ủng hộ giải Nobel Hòa Bình được trao cho người Việt Nam trong năm nay, bởi đó sẽ là nguồn khích lệ lớn lao, nguồn động viên thiết thực của thế giới dành cho dân tộc chịu quá nhiều đau thương, mất mát gần 40 năm qua dưới ách cai trị bạo tàn và xảo trá mang tên CSVN. Giải thưởng cao quý này nhất định sẽ trở thành một cánh quân quả cảm để người Việt Nam cùng nhau tập hợp lại, phất cao “Lá cờ – Nobel Hòa Bình” mà thế giới trao cho chúng ta như một niềm cổ vũ, như một lời cảm thông và trên hết như một lời hiệu triệu người Việt Nam hãy nắm chặt tay nhau và cùng chuyển thông điệp quan trọng, cấp thiết và dứt khoát đến ĐCSVN rằng: HÃY QUAY VỀ VỚI DÂN TỘC, TỔ QUỐC TRƯỚC KHI QUÁ MUỘN!


Thật lòng, ngoài Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ – Người rất xứng đáng nhận giải thưởng này, tôi mong Ủy ban trao giải tại Oslo hay xem xét, cân nhắc và quan tâm đến một người đủ cả tâm, tài, tuệ, đó chính là ông TRẦN HUỲNH DUY THỨC.


Giá như tôi có được một lá phiếu trong tay, người tôi đề cử sẽ là TRẦN HUỲNH DUY THỨC. Bởi xét về quá trình cống hiến có lẽ anh còn thua xa Ngài Thích Quảng Độ, nhưng xét về sức bật và sự đóng góp cho tương lai Việt Nam hòa bình (tôi tin một ngày không xa), anh còn thừa năng lượng để cống hiến cho Việt Nam tất cả tâm, trí, lực với tuổi đời còn đủ trẻ, với khối óc thông minh cùng một tấm lòng lương thiện, yêu nước không mảy may ngờ vực cho bất kỳ ai.


Tôi tin giải Nobel hòa Bình 2012 sẽ được trao cho người Việt Nam. Tôi tin ngày ấy đang đến. Khởi từ giải thưởng Nobel Hòa Bình trong năm nay – cho TRẦN HUỲNH DUY THỨC HAY ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG ĐỘ – chính là cho VIỆT NAM.


Miến Điện đang đổi thay từng ngày bởi lòng yêu nước, thương dân nồng nàn của bà Aun Sang Suu Kyi cùng sự quay đầu hối cải của nội các Thein Sein. Sao người Việt Nam không có quyền nghĩ đến điều này và… sớm hơn?


Tôi tin điều đó!


Nguyễn Ngọc Già

Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2012

Đại Vệ Chí Dị 44

Năm Tân Mão. Nước Vệ triều nhà Sản năm thứ 66, đời Vệ Kính Vương thứ nhất.

Năm đó loạn khắp nơi. Mùa hè đến suốt mùa thu năm Tân Mão dân sĩ kinh thành tụ họp phản đối chuyện Tề chiếm lãnh hải, việc đó kéo dài đến mấy tháng. Sau này triều đình mới tóm người nổi bật trong đám ấy là một nữ nhi, tống vào trại giáo dục như trại tù. Chuyện đó mới tạm yên.

Từ khi con cháu của khai quốc công thần là Cù tiến sĩ bị đưa ra xét xử vì tội mưu phản triều đình. Nước Vệ càng rối ren hơn. Ngay sau khi xử, triều đình tầm nã ráo riết, bủa lưới khắp nơi bắt thêm vài chục mống thanh niên với tội mưu phản, đến đầu năm sau lại bắt thêm nhóm khác ở phía Nam thuộc phái Công Luận Công Án đến cả chục người cũng tội mưu phản.

Bấy giờ ở đất Lãng ven biển, có người họ Đoàn thi đỗ cử nhân không làm quan bỏ về quê ra công lấn biển, đắp đê, quai đập ròng ra mười mấy năm trời. Cơ nghiệp cha ông để lại cùng mưu sức dồn cả vào đó. Lập nên một trang trại mênh mông, dân trong vùng nương nhờ con đập mà ổn định sự sống. Tưởng đâu đời sống thái bình, chí thú làm ăn đến lúc tuổi già.

Ngày nọ quan anh đất Lãng là Lê Liêm Khiết cùng quan em là Lê Hiền Lành đi tuần thú, thấy đất đai của Đoàn màu mỡ, thẳng cánh cò bay. Quan anh mới hỏi quan em rằng.
- Ơ! đất đâu ra mà ngon thế nhỉ?

Quan em thưa.
- Đất này do Đoàn cử nhân, lấn biển mà có. Nay họ Đoàn đang sử dụng.

Quan anh.
- Thế tên Đoàn cử nhân ấy sống có biết lẽ trời không?

Quan em.
- Tên họ Đoàn ấy ỷ công sức lấn biển, coi thường quan sở tại, hàng năm không có cống nạp gì. Gặp quan lại trong quán chỉ dương mắt mà nhìn. Thật vô lễ. Lẽ đời còn chưa biết, nói chi là lẽ trời.

Quan anh nói.
- Nhà Sản chúng ta thay trời hành đạo, cai trị đất nước này đã mấy chục năm. Bốn cõi phẳng lặng, yên bình, ấy là do chúng ta hành đạo sâu sát, khiến dân chúng ý thức được bổn phận con đen. Anh em chúng ta là quan nhà Sản tức là vâng mệnh trời mà hành đạo. Sao để có đứa vô lễ như vậy. Nếu không làm cho ra nhẽ, đứa khác a dua theo, chúng ta còn mặt mũi nào mà cầm thẻ ngà nhà Sản mà hành đạo nữa. Mau ra lệnh thu hồi gấp để giao đứa nào biết lễ nghi sử dụng.

Thế rồi kẻ nách thước, người tay đao, súng ống tề tựu dưới sự chỉ huy của anh em nhà quan sở tại họ Lê, ngày nọ dẫn cả đám kéo đến trang trại nhà họ Đoàn thu hồi đất. Họ Đoàn thấy đám nọ xâm phạm đất nhà mình,từ xa bèn lấy súng đạn ghém bắn dọa chơi một cái. Khiến quan quân sợ vỡ mật, ôm đầu mà chạy. La đến tận hàng tổng, khiến quan tổng binh thành Hoa Cải là Đậu Ka phải vận dụng hết binh pháp, sáng tạo thêm lối đánh tài tình. Trên bến, dười thuyền, thủy bộ toàn dùng quân đặc nhiệm nhịp nhàng tác chiến do Ka trực tiếp chỉ huy. Đến nơi khai hỏa, khói súng mịt mù trời đất, rồi xông vào thì chả còn ai. Quan sở tại họ Lê nhân lúc đó bèn cho người bắt chó, bắt cá, đập phá nhà cửa khiến cơ ngơi mấy mươi năm họ Đoàn thành bình địa, vườn không nhà trống. Triệt luôn tang tích, dấu ấn của họ Đoàn.

Họ Đoàn ra đầu thú, quan tổng binh trấn Hoa Cải là Đậu Ka bắt cả họ vào ngục, sau thả vài mống đàn bà về. Anh em nhà họ Đoàn bị giam vào ngục vì tội có ý giết quân triều đình. Tiếng tăm vụ án này bay khắp nước, nhân sĩ, quan văn, lão thành, cựu chiến binh nghe thấy đều bất bình với hành động của quan sở tại đất Lãng làm đơn khiếu nại, rồi bàn tán bất bình.

Vua tôi nhà Sản họp cả tháng trời không biết quyết sao. Lúc đang phân vân, dằng co tính định thì lão khai quốc công thần mới sốt ruột gửi tờ hối thúc. Tờ đó ý rằng cả năm nay nhà Sản bắt bao người dân thường, trí sĩ với tội mưu phản, khiến lòng dân đã hồ nghi sao lắm người làm phản thế. Nay lại chính quan lại nhà Sản cũng gây phức tạp thêm, nếu không quyết xử thì người ta lại đổ tại là vì quan lại ác bá mà dân làm phản.

Triều đình nhà Sản nghe thấy cao kiến, bèn quyết định bãi chức anh em nhà họ Lê đất Tiên Lãng. Việc rành rành cả tháng trời mới quyết xong, bàn đi tính lại mãi. Ấy cũng bởi cách làm phân vân giữa luật và lệ. Phàm khi dân phạm luật thì có án ngay, quan lại phạm luật dùng dằng để cả năm chưa xong. Vụ xứ Lãng nhờ dư luận gay gắt thế mà cũng phải mất tháng trời.

Thế mới biết, nhà Sản hành đạo thì hay, nhưng hành pháp vẫn còn lúng túng lắm.

Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2012

Tin hay không tin

Tin hay không tin

Sau vụ anh Ðoàn Văn Vươn ở xã Vinh Quang huyện Tiên Lãng bị cướp đất rồi bị bắt, nhiều người Việt trong nước đã đặt câu hỏi trên các mạng lưới: “Liệu vụ này có bị chìm xuồng không?” Rồi tự trả lời: “Chúng tôi chả còn biết tin vào đâu nữa!” Một độc giả khác trấn an: “Hãy tin vào đảng vào trung ương…” Nhưng có người phản bác ngay: “Các bác vẫn còn cái trung ương để tin. Em thì chẳng. Dứt khoát như thế cho nó nhanh. Còn tin vào đâu?”

Một cách cụ thể, một vị độc giả trên mạng đề nghị: “Hãy làm một cuộc trưng cầu dân ý bằng cách cho mọi người bỏ phiếu với hai khả năng (chọn lựa): Tin – Không tin.” Và vị này đoán kết quả sẽ “có đến 90 % người dân không tin vào vai trò lãnh đạo của đảng nữa.” Một vị khác đồng ý: “Tôi nghĩ… việc mất lòng tin của dân là nhãn tiền.”

Thực sự bây giờ mà đặt câu hỏi dân Việt Nam còn tin hay không tin đảng cộng sản thì hơi phí thời giờ. Ðó là một vấn đề chẳng cần nêu ra làm gì nữa, câu trả lời ai cũng biết rồi. Có thể đặt ngay một câu hỏi là “Ðảng cộng sản có còn tin vào đảng nữa hay không?” Và có thể trả lời ngay là KHÔNG. Cũng trả lời “Dứt khoát như thế cho nó nhanh!”

Hãy thử tự đặt mình vào địa vị các đảng viên và lãnh tụ cao cấp của đảng mà tự hỏi: “Nếu TIN thì TIN vào cái gì? Có cái gì để TIN hay không?” Hỏi rồi, nhìn quanh nhìn quẩn, thực tình, chẳng thấy có cái gì để tin hết! Chính họ cũng không thấy có gì để tin vào đảng của họ nữa, “Nói dứt khoát như thế cho nó nhanh!”

Trước hết, đảng viên cộng sản còn ai tin vào mục đích sau cùng của các đảng cộng sản là làm cách mạng vô sản toàn thế giới hay không? Các đảng viên cộng sản bây giờ còn tin rằng kinh tế tư bản đang rẫy chết, sắp sụp đổ như ông tổ Karl Marx đã tiên đoán trước đây hơn 150 năm hay không? Các đảng viên cộng sản bây giờ còn ai muốn nghiên cứu học tập những lý thuyết viển vông như Duy Vật Biện Chứng hay Duy Vật Lịch Sử nữa hay không?

Những giáo điều căn bản của đảng cộng sản, họ không tin, thì họ tin vào cái gì? Ngay cả những lãnh tụ cao cấp nhất trong đảng cũng chỉ chăm chắm lo làm giầu, lo củng cố địa vị cho con cháu; có ai bây giờ còn tự xưng mình là một “chiến sĩ vô sản?”

Cơn khủng hoảng niềm tin trong nội bộ đảng Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu ngay từ khi họ chiếm được miền Nam Việt Nam. Những đảng viên người miền Bắc thấy rõ người dân trong Nam từng có mức sống cao hơn và có nhiều quyền tự do hơn trước khi “được Ðảng giải phóng.” Những chính sách kinh tế thất bại gây ra nạn đói, cho thấy chủ trương và tài cán của các lãnh tụ là số không. Các cuộc chiến tranh với Khmer Ðỏ và Trung Cộng cho thấy cái gọi là chủ nghĩa quốc tế vô sản là hoàn toàn dối trá, bịp bợm. Cảnh sụp đổ của Liên Xô và khối cộng sản ở Âu Châu đã mở mắt tất cả những đảng viên vẫn còn mơ hồ. Khi đảng cộng sản quyết định “đổi mới” thì người ta đã thấy chẳng qua chỉ là trở về với những phương pháp cũ, trước bị đảng cộng sản thay đổi! Nếu còn ai tin tưởng vào đảng cộng sản thì niềm tin đó cũng chấm dứt khi người ta nhìn thấy cảnh các cán bộ từ trên xuống dưới chạy đua trên con đường biến thành tư bản đỏ. Không phải tất cả các đảng viên cộng sản đều hy vọng thành tư bản đỏ, vì chỉ có một thiểu số giành được quyền làm giầu. Những người còn lại phải bám vào đảng để sống.

Riêng đám lãnh tụ đầu đảng bây giờ chỉ còn lo củng cố địa vị mà làm giầu. Họ tìm cách học tập rồi chắp vá những mánh khóe của các chế độ độc tài khác trên thế giới, cố làm sao bảo vệ quyền hành, và bảo đảm đám con cháu sẽ còn được hưởng thụ như họ càng lâu càng tốt. Tất cả là một mạng lưới kết hợp chặt chẽ với nhau để giữ quyền và đục khoét. Ở cấp xã, cấp huyện thì tiêu biểu là xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng. Ở cấp cao hơn thì tiêu biểu là bọn những tập đoàn PMU 18, Xa lộ Ðông Tây ở Sài Gòn, Vinashin. Tất cả đều nhắm mục đích vơ vét thật nhanh, vì biết ngày sụp đổ không còn xa nữa. Leo lên ngồi được vào một cái ghế rất tốn kém, thời gian kiếm chác không biết được bao lâu, cho nên phải nhất trí vơ vét thật nhanh! Như một người dân đã viết trên mạng: Họ đầu tư thì họ phải cố thu hồi!

Tóm lại, bây giờ, đảng cộng sản cũng không còn tin vào chính nó nữa. Những bài diễn văn vẫn đề cao những chủ nghĩa lạc hậu, vẫn hô to các khẩu hiệu rỗng tuếch; chính họ cũng không còn tin lời họ nói nữa. Ngay việc họ vẫn tự gọi tên đảng của họ là đảng cộng sản đã là một điều dối trá trơ trẽn rồi. Người dân coi họ chỉ là một bè lũ Mafia.

Nhưng một hậu quả thê thảm sau hơn nửa thế kỷ cộng sản cai trị, là họ cũng phá vỡ hết cả niềm tin của mọi người dân Việt Nam. Ðảng cộng sản ngay từ đầu đã chủ trương phá các tôn giáo, vì sợ lòng trung thành với đảng bị chia sẻ. Họ hủy bỏ trật tự của các gia đình, là nơi vẫn chứa đựng các giá trị nhân bản như tình thương yêu giữa cha mẹ và con cái, niềm tin vào phúc đức tổ tiên, truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Họ biến công việc giáo dục thành một khí cụ tuyên truyền, xóa sạch tinh thần “tôn sư trọng đạo” mà các tiền nhân từ Chu Văn An đến Nguyễn Ðình Chiểu đã xây dựng trong hàng ngàn năm. Họ bỏ mặc các giáo chức sống nghèo khổ, phải lo kiếm ăn nhiều hơn là lo giáo dục; làm mất uy tín của các thầy giáo, cô giáo, mà từ đời xưa vẫn được coi là lớp người làm gương mẫu cho thanh thiếu niên Việt Nam. Họ coi cả hệ thống tư pháp là một dụng cụ cai trị, không người dân nào tin tưởng vào luật pháp nữa. Trật tự xã hội chỉ dựa trên nỗi sợ hãi trước guồng máy công an.

Hậu quả của các chính sách cộng sản là tạo nên một xã hội bơ vơ không còn ai tin vào các giá trị tinh thần. Trước đây 30 năm, tập truyện Thằng Người Có Ðuôi của nhà văn Thế Giang đã cho thấy những thứ tội ác diễn ra lạnh lùng, ngay cả cảnh người lớn đối xử ác độc với trẻ em. Trước đây 25 năm Nguyễn Huy Thiệp đã mô tả tình trạng con giết cha, vợ bỏ chồng, anh em, bạn bè lợi dụng lẫn nhau; trong một xã hội hoàn toàn không có các tiêu chuẩn luân lý. Nhưng trong văn chương của Nguyễn Huy Thiệp cũng như Thế Giang độc giả còn thấy bóng dáng của lòng từ bi, của những khát vọng hướng về Cái Thiện. Ngày nay, đọc tiểu thuyết Xe Lên Xe Xuống của Nguyễn Bình Phương chúng ta thấy ông cực tả tình trạng trống rỗng tinh thần ở một mức độ kinh hoàng hơn nữa. Cái Thiện hoàn toàn vắng mặt. Các nhân vật trong Xe Lên Xe Xuống không quan tâm đến một giá trị luân lý nào cả. Ðộng cơ của họ khi cư xử với nhau, khi đối phó với hoàn cảnh bên ngoài, đều là do lòng tham và nỗi sợ. Họ chỉ đi tìm tiền bạc, quyền hành, và nhục dục. Họ nhìn người khác đều chỉ thấy đó là những vật có thể dùng để thỏa mãn các mục đích này. Hình ảnh duy nhất còn mang lại niềm tin trong toàn cảnh tiểu thuyết này là tình anh em ruột thịt, qua những ký ức về thời thơ ấu của nhân vật chính, khi hai anh em đối xử với nhau như những con người, không vụ lợi.

Có thể đó là một điều mà Nguyễn Bình Phương nêu lên như mầm mống để nuôi hy vọng cho một nước Việt Nam tốt đẹp hơn. Cuốn tiểu thuyết đặt trong bối cảnh cuộc chiến tranh Việt Hoa tàn khốc những năm 1979, và 1984, cuối cùng, chứa đựng một nỗi khát khao: Phải sống lại tình anh em máu mủ, như thời chúng ta còn là những đứa trẻ thơ.

Bởi vì các chế độ chính trị sau cùng đều tàn lụi cả. Các chủ nghĩa, các lý thuyết đều chỉ có giá trị nhất thời. Những người giầu có nhất, quyền lực cao nhất, sau cùng cũng sẽ bị lãng quên. Quyền hành, danh vọng, tiền bạc, khi chết không ai mang theo được. Nhưng tình tự dân tộc, tình thương yêu giữa người Việt Nam với nhau giống như tình anh em ruột thịt, vẫn tồn tại. Mọi người Việt Nam dù ở trong nước hay ở nước ngoài đều chia sẻ những nỗi nhục nhằn cay đắng của các nhân vật trong Xe Lên Xe Xuống, trong cơn hoạn nạn đất nước bị xâm lăng. Tất cả đều xúc động khi đọc tin tức về gia đình ông Ðoàn Văn Vươn. Tình đồng bào đó vượt lên trên mọi bức tường chia rẽ chúng ta, dù là tường lửa.

Bây giờ chẳng cần đặt ra câu hỏi người dân còn tin chính quyền cộng sản hay không nữa. Nhưng chúng ta có thể tin vào tình thương yêu giữa đồng bào với nhau. Mối quan tâm lớn là chính chúng ta phải xây dựng lại niềm tin giữa người Việt Nam với người Việt Nam. Bắt đầu bằng tấm lòng thành thật, bằng lời nói đúng sự thật, và thái độ sẵn sàng tin tưởng vào những người cùng thành tâm thiện chí. Chỉ có sự thật xây dựng được niềm tin.

Ngô Nhân Dụng

Thứ Tư, 11 tháng 1, 2012

Tư duy kinh tế nào đã và đang giết chết từng ngành và toàn diện nền kinh tế Việt Nam?


Tư duy kinh tế nào đã và đang giết chết từng ngành và toàn diện nền kinh tế Việt Nam?


Phan Châu Thành

Đặt vấn đề về Tư duy Kinh tế của Việt Nam


Từ hơn năm chục năm nay, tức là ngay trong và sau các cuộc chiến tranh, khách quan mà nói, nhà nước XHCN Việt nam đã luôn có những cố gắng tìm cách phát triển nền kinh tế mà họ định hướng là sẽ phải mang tính XHCN. Thế nhưng tại sao kết quả thì “Việt Nam vẫn là nước nghèo”, như TTg NTD mới vừa “hùng hồn” tuyên bố? 

Thực tế, kinh tế nước Việt ta đang còn lùi xa sau các nước lân cận mà trước đó, ngay cả khi trong những cuộc chiến tranh tàn khốc, nước ta vẫn có Hòn ngọc Viễn đông để vẫy gọi họ.


Hơn ba chục năm hoà bình ổn định là thời gian đủ dài để hai nước Á Đông lớn trở thành cường quốc kinh tế thế giới là Nhật (số 3 thế giới) và Trung quốc (số 2 thế giới), hoặc để đa số các nước Đông Nam Á hoá rồng, như Hàn Quốc (thứ 13 thế giới) hay Đài loan, Hongkong hay Singapore (tốp Rồng con), Malaysia hay Thái Lan (tốp đầu Đông Nam Á), chỉ riêng trừ Việt Nam XHCN là cứ tự mình “ưu việt” từ tốp đầu ĐNA lùi lại chót!


Hiện nay, rõ ràng ngay cả Philippine, Miamma, Lào hay Cămpuchia cũng đã, đang và sẽ có khả năng bứt phá, vượt qua Việt Nam trong 3-5 năm tới, làm câu hỏi trên càng thêm vô cùng nhức nhối lòng mỗi người Việt có tự trọng và tư duy.


Vậy, các nước đã và sẽ hoá rồng bứt phá bằng những điều kiện ưu việt hơn ta? Không, họ chỉ bứt phá bằng tư duy kinh tế khác. Đó không còn là vấn đề đúng sai của các chiến lược, mô hình hay đường lối kinh tế của đảng và chính phủ nữa, bởi vì vấn đề chiến lược các nước đều có thể học nhau và tự điều chỉnh… Vấn đề là tư duy kinh tế nào của đảng và chính phủ đang là cơ sở cho việc áp dụng các chiến lược kinh tế đó suốt mấy chục năm nay mà không thay đổi?


Tư duy kinh tế đó đã và đang trói chân buộc cánh nền kinh tế Việt Nam vốn “hứa hẹn cất cánh” từ 1975, rồi lại được kỳ vọng “sẽ cất cánh” sau đổi mới 1986, rồi lại “đang trên đường rồng bay” từ 2000, suốt cả hơn chục năm nay? Để rồi sắp hạ cánh xưống vực thẳm trong 2012-2013?!


Vậy, cái gọi là Tư duy kinh tế của Việt Nam là gì? Đó là tư duy kinh tế XHCN mang tính thị trường hay Tư duy kinh tế Thị trường định hướng XHCN, duy nhất chỉ VN có trên thế giới và na ná giống một hệ tư duy kinh tế cũng duy nhất khác: kinh tế Thị trường mang bản sắc TQ…(thực ra thì ta copy cái tên và chế biến đồ cũ dùng lại).


Thực trạng kinh tế Việt Nam 2011: một câu hỏi lớn

Cuộc “cất cánh” của nền kinh tế Việt Nam từ 1986 đến 2011 nghe chừng vẫn đang trục trặc chưa tìm thấy “đường băng” đâu, mà chỉ thấy bản thân nó đang bị rụng rơi từng “cánh” một…


Rụng đầu tiên là “cánh” “quả đấm thép” đóng tàu Vinashin. Nó cũng đã làm tan nát chiến lược kinh tế biển quốc gia đến 2030 mà Vinashin đã được thủ tướng và đảng đặt ở trọng tâm, ảnh hưởng tồi tệ đến không chỉ các ngành kinh tế biển khác (như hàng hải, thuỷ sản, du lịch, dầu khí, năng lượng…) mà cả khoa học biển và an ninh quốc phòng, cả vẹn toàn lãnh thổ quốc gia trên biển.


Tiếp theo là “cánh” “giấc mơ bốn bánh ô tô” dần tan vỡ âm thầm trước khí lên tiếng chào đời, để cho La Đalạt của CVCH từ trước 1975 vẫn là đỉnh cao ngất ngưởng không thể vượt qua. “Giấc mơ bốn bánh” kết thúc bằng thế giới đệ nhất thị trường xe hai bánh (thị trường lớn nhất) cho 95% dân lao động và thế giới đệ nhất xe sang (nhập ngoại) của quan chức và các đại gia “cùng nhóm” thân hữu. Tóm lại là Việt Nam chắc chắn và mãi mãi sẽ không bao giờ có một mác xe nào của mình ngoài La Đà lạt thân yêu!


“Cánh” đường sắt thì mới bị gãy trên “giấy” và “mồm” sau cơn cuồng ngộ ĐSCT của chính phủ, nay cũng chưa thể nâng cấp đường 1m thành 1,45m…, điều thế giới cơ bản đã làm xong trong thế kỷ trước rồi. Dù vậy, đảng ta vẫn còn đang âm mưu trở lại ước mơ ĐSCT mang màu sắc TQ trong tương lai gần để đưa dân tộc “đi tắt vào tương lai”…


Còn “cánh” ngành vật liệu cơ bản (thép, xi măng…), vốn chỉ biết bán nhân công độc quyền kiếm lời trên sân nhà và xin chế độ bảo hộ thì luôn thua trắng nước ngoài và chỉ biết đổ lỗ cho thị trường nội địa.


“Cánh” công nghiệp nặng và cơ khí chế tạo “là then chốt” của nên kinh tế đất nước nửa thế kỷ nay thì đã gãy chốt từ trước 1986 mà chưa gắn chốt lại được, và có lẽ kinh tế nước ta sẽ mãi mãi không có then chốt nữa, vì…


“Cánh” cơ khí-luyện kim-chế tạo máy với hàng trăm hàng ngàn tiến sĩ giáo sư vẫn chưa làm nổi các con bùlong đinh ốc cho chiếc xe máy, chứ chưa nói đến cho các ngành công nghiệp nội địa, và còn phải đi học các bác nông dân đang tự chế tạo máy móc nông cụ cho đến cả trực thăng… vài trăm năm nữa?


Các “cánh” điện tử, hoá chất, nhựa cũng sẽ sắp tan chảy hay bốc khói … vì chỉ chuyên dùng máy móc và công nghệ cũ của TQ, Đài loan…thải ra, không chế được 1 con chip, lắp đước một cái handphone…


“Cánh” điện, nước, xăng, dầu, than khoáng sản… thì luôn là hiểm hoạ tăng giá sản xuất và sinh hoạt của xã hội lên không ngừng vì …kinh doanh lỗ! Lạ thế, có tiền vốn, có độc quyền thị trường, có mọi chính sách hỗ trợ và chỉ việc đào tài nguyên đất nước của Tổ tiên để lại lên mà bán mà cứ lỗ triền miên trên “mỏ vàng vô tận” của dân tộc…


Tôi xin nói riêng về “cánh” dầu khí trong dịp khác, vì khi nó gẫy là thảm hoạ kinh tế sẽ bao trùm tất cả, nền kinh tế quốc gia sẽ sụp đổ, quốc gia sẽ sụp đổ…


Chỉ có “cánh” buôn bán nông sản, hải sản, và nhân công may mặc, giày da… là có lãi và có nhiều đóng góp tích cực cho nền kinh tế, nhưng người lao động thì ngày càng vô sản và tương lai ngành cũng hoàn toàn phụ thuộc thị trường “tư bản bóc lột” quốc tế mà thôi.


Các cánh là nông nghiệp và kinh tế dân doanh thì không thể rụng được, vì các nhân dân vẫn luôn còn đó, nhân dân vẫn luôn phải tự nuôi mình, chỉ có điều họ không thể nuôi cả đảng và chính phủ, quân đội chỉ bằng sức lao động của họ mà thôi. Nhung nông dân vẫn thiếu đói, cụ thể là Thanh Hoá đang đói rộng (trên 240,000 dân đang thiếu đói 2011!).


Chỉ có hai điểm sáng le lói cuối đường hầm kinh tế Việt Nam: kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài.

Có mẫu số chung nào trong tình trạng đó của nền kinh tế nước ta hiện nay? Đó là tư duy kinh tế định hướng XHCN!


Thử lý giải hiện trạng và gọi tên nguyên nhân “gẫy cánh”

Thẳng thắn mà nói, bản thân cách chúng ta phải liệt kê thất bại của các ngành kinh tế VN như trên cũng đã nói nên nguyên nhân thất bại của nó trong tư duy kinh tế, đó là cách tư duy cục bộ, tư duy chiến tranh và tư duy chuyên ngành của lý thuyết kinh tế XHCN, bắt nguồn từ khái niệm XHCN ảo tưởng, đã quá lỗi thời vì sai lầm và đã bị cha sinh mẹ để của nó bỏ đi, mà VN ta đã “xin giống về trồng” đến nay vẫn quyết một lòng chăm bón.


Tư duy kinh tế cục bộ là cách tư duy tách biệt theo đơn vị địa phương nhỏ cấp tỉnh, tách khỏi cả nền kinh tế, không gắn liền và có quan hệ phụ thuộc hữu cơ với các bộ phận khác, như chiến lược chiến tranh du kích vậy. Nó rất tiện cho quan địa phương xâu xé, vì ngân sách quan trọng của nó là quĩ đất địa phương…


Tư duy kinh tế chiến tranh là cách tư duy xin-cho theo mệnh lệnh, nhiệm vụ cụ thể, riêng biệt của mỗi ngành kinh tế, không cần biết đến mối quan hệ của nhiệm vụ đó với các hoạt động kinh tế khác, giống như trong chiến tranh chỉ đơn vị nào tập trung biết nhiệm vụ của mình giao từ cấp trên…


Tư duy kinh tế vĩ mô chuyên ngành, tức là từ cấp nhà nước người ta đã chia nhỏ mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể rất vật chất và chuyên sâu cho từng bộ ngành, được đo bằng nhiệm vụ chính trị trước rồi mới đến hiệu quả kinh tế sau, rồi phân chia ngân sách (thuế và đi vay) cho từng ngành, để mỗi ngành từ đó tự mà lo hoàn thành nhiệm vụ.


Tất cả các ngành như một bầy bê con tranh nhau bú từ một bầu sữa bò mẹ, giữa chúng không hề có quan hệ tương tác chung nào khác ngoài cùng bò mẹ, hoặc quan hệ không được điều tiết bằng chính sách, mà chỉ bằng mệnh lệnh của… bò mẹ.


Đây là cách nhìn kinh tế của Mác, giống như Mác đã chia xã hội thành các giai cấp vậy. Nếu xã hội là một rừng cây, thì theo Mác, các “giai cấp” Lá, Cành, Thân, Rễ, Quả, Hoa… phải đấu tranh sinh tồn với nhau để tồn tại. Và để phát triển, một giai cấp (Lá chả hạn) phải tiêu diệt hết các giai cấp khác, biến họ thành mình… Rừng XHCN sẽ toàn lá?!


Như vậy, mục tiêu của đảng: “mỗi địa phương phải là một “pháo đài kinh tế” XHCN” (xưa là cấp huyện- hơn 500 pháo đài, nay là cấp tỉnh -hơn 60), “môĩ bộ ngành là một “đầu máy kinh tế” XHCN độc lập” (nay: hơn 20 bộ và gần 20 tập đoàn, tổng cty).


Từ tư duy đó, mỗi trong hơn sáu chục tỉnh thành đều phải có đủ các ngành “thế mạnh”: công nghiệp địa phương, các khu công nghiệp, các khu tiểu thủ công nghiệp, khu thương mại, du lịch phải có cả trường đại học của tỉnh, có y tế, giao thông riêng…bất chấp chất lượng và hiệu quả kinh tế. Tư duy của bộ máy hành chính tỉnh, thành phố giống như tư duy của nguyên thủ quốc gia thu nhỏ, thành các ông vua con địa phương;


Từ tư duy đó, mỗi trong hơn ba chục bộ ngành nghề đều phải có đủ các các khu công nghiệp chuyên các khắp các vùng, các tỉnh từ bắc chí nam (Vinashin từng có trên 20 khu công nghiệp đóng tàu!), có các trường đại học chuyên ngành, các viện nghiên cứu khoa học chuyên sâu, các trung tâm tài chính riêng, các ngành công nghiệp phụ trợ riêng, các trường và trung tâm đào tạo lạo động chuyên ngành riêng, hậu cần du lịch, y tế riêng, bảo hiểm riêng…cũng bất chấp chất lượng và hiệu quả kinh tế. Tư duy của bộ máy hành chính các bộ ngành giống y như tư duy của văn phòng chính phủ thu nhỏ, phải có đủ mọi lĩnh vực kinh doanh để “độc lập”(vơ vét): các chính phủ con;


Tổng cộng, (không tính các lực lượng kinh tế của quân đội, công an, đảng, công đoàn, phụ nữ, thanh niên… rất đông đảo và hùng hậu), trong nhà nước VN XHCN ta có khoảng trên một trăm “quốc gia và chính phủ con” như thế (khoảng trên 120) để thực hiện một mục tiêu kinh tế xã hội bằng trên dưới một trăm cách, một trăm hướng độc lập và cạnh tranh nhau khốc liệt khác nhau, tất cả có đầy đủ các hệ thống cung cấp dịch vụ riêng nội bộ giống như nhau: dịch vụ giao thông, đào tạo, nghiên cứu, nhà ở, tài chính ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, …như loạn “120 xứ quân” vậy.


Tôi đã từng nghe các vị chủ tịch nhiều tỉnh thao thao tư duy kinh tế của mình như một vị nguyên thủ quốc gia cao nhất, hay các vị chủ tich TGĐ các tập đoàn thao thao các kế hoạch phát triển biết bao ngành nghề trọn gói chỉ tự cho tập đoàn minh, cứ như một vị đững đầu chính phủ lo cơm áo cho cả quốc gia. Tư duy của họ 120 kẻ đứng đầu “120 xứ quân” như vậy, đáng mừng hay đáng lo? Đảng thì mừng. Tôi thì lo, rất lo, cho dân.


Ví dụ “thủ tướng con”: Cựu TGĐ tập đoàn Vinashin Trần Quang Vũ từng chiêu đãi chúng tôi một bữa trưa thịnh soạn có món tôm sú hấp và ông giới thiệu đó là tôm tập đoàn Vinashin nuôi trên mấy chục hecta chỉ để cung cấp cho cán bộ công nhân viên các nhà máy đóng tầu ăn cũng không đủ. Tôi xuống nhà bếp nói chuyện hỏi anh em thì họ nói bị tập đoàn ép mua tôm đắt hơn ngoài chợ và họ phảỉ ăn mãi một món tôm đắt cả tuần, hàng ngàn công nhân đều ớn mà không ai kêu đến tai ông tổng được. Cũng ông Vũ bữa khác còn khoe rằng tập đoàn ông đang đầu tư mấy trăm hecta rừng trồng thông để cung cấp…cây thông Noel cho công nhân tập đoàn cả nước! Kết quả của tư duy kinh tế Vinashin đó thế nào ta đã rõ…


Ví dụ “vua con”: Bí thư một tỉnh trung du duyên hải tầm trung bình như Quảng Ninh nhưng có khá lắm đất nhiều đồi, rất ít ruộng lại quyết tâm mong muốn để mỗi huyện thị phải có ít nhất 2-3 khu công nghiệp, tỉnh có 13 huyện thị vị chi sẽ phải có trên hai chục khu công nghiệp (sẽ lấy đi số lớn đất ruộng nông nghiệp vốn rất ít ỏi của tỉnh) để hy vọng thu hút đầu tư. 

Với tư duy của các “vua con” như vậy, cả nước đang có trên 300 KCN và con số này sẽ tiến đến 500 trong vài năm tới (đã qui hoạch xong). Trong khi đó, Singapore là quốc gia chỉ có 5 khu công nghiệp nhưng có tổng thu nhập năm 2010 trên 182 tỷ USD, gấp đội VN – 86 tỷ USD). Tư duy tỉnh nào cũng phải có nhiều KCN để thu hút đầu tư làm nước ta có số khu công nghiệp đã quy hoạch gấp 60 lần Singapore nhưng GDP bằng một nửa của họ khi dân số gấp hơn 20 lần, tức hiệu quả kinh tế kém gấp khoảng… hơn hai nghìn bốn trăm lần!


Cơ sở của tư duy theo ngành và địa phương và rồi của hệ thống tổ chức quân đôiu, chính trị, xã hội trong cả nền kinh tế quốc gia như thế là do lý thuyết kinh tế Mác-Lênin vốn chỉ coi trọng các ngành sản xuất ra sản phẩm vật chất, không coi dịch vụ là ngành cũng làm ra giá trị đóng góp vào tổng thu nhập quốc dân. Nay dù thu nhập quốc dân đã được tính gồm cả giá trị dịch vụ (đến trên 40%) thì cơ cấu tổ chức nhà nước với các bộ ngành của ta, các sở ban ngành của các tỉnh thành vẫn gần nguyên như cũ.


Hiện trạng của tư duy kinh tế XHCN và kèm theo nó là các tổ chức kinh tế như trên làm:
- Tổ chức kinh tế nặng nề, bùng nhùng, không có chỉ huy, kém linh hoạt và không hiệu quả: không thực sự đủ sức làm tốt việc gì; 
- Khó hạch toán minh bạch gây nhiều thất thoát, khó kiểm soát gây tham nhũng bùng phát bên trong các tổ chức; 
- Chia quá nhỏ và dàn trải tiềm lực kinh tế, không tập trung được vốn cho các khu vực trọng điểm; không thể chuyên sâu để có trình độ cao, chất lượng tốt để cạnh tranh quốc tế;

- Nhiều vấn đề các ngành hay các địa phương không thể tự giải quyết được mà phải là liên ngành và cấp trung ương cùng giải quyết như: đào tạo và cung cấp nhân lực lao động phổ thông chất lượng cao, phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ chung, đầu tư phát triển các trung tâm nghiên cứu thí nghiệm ững dụng liên ngành, các đơn vị cung cấp dịch vụ chuyên, chung, và độc lập như bảo hiểm, tài chính, y tế, hay nghĩ dưỡng, du lịch…
- Các vấn đề không được giải quyết vì không được nhìn ra lại càng tự lây lan hay thấm sâu và gây cản trở cho phát triển chung…

Tư duy kinh tế như vậy có thể gọi là tư duy kinh tế tự sát hay tư duy bị ung thư, mà cái gen ung thư chính là hạt giống XHCN. Muốn khỏi chết, chỉ có cắt bỏ khối ung thư.


Kinh tế Việt Nam muốn phát triển thành Rồng, chỉ có một con đường: bỏ tư duy định hướng XHCN. Thay nó bằng gì? Chả cần thay gì cả, Tư duy kinh tế thị trường – hạt giống đã có trong khối kinh tế tư nhân và nước ngoài, tự nó sẽ phát triển thay thế và phát huy tác dụng tốt cho cả nền kinh tế và cả xã hội.

Chủ Nhật, 8 tháng 1, 2012

Đại Vệ Chí Dị 43

Trích dẫn:
THÔNG CÁO BÁO CHÍ:

Việc bắt giữ Bùi Thị Minh Hằng


Hà Nội, 5/1/2012 – Đại sứ quán Hoa Kỳ quan ngại sâu sắc bởi những tin tức tường thuật rằng Bùi Thị Minh Hằng đã bị kết án không qua xét xử tới 2 năm giam giữ tại một trại cải tạo ở Việt Nam vì đã tham gia vào một cuộc biểu tình ôn hoà. Sự việc không theo trình tự chuẩn mực này mâu thuẫn với cam kết của Việt Nam đối với Tuyên ngôn Nhân quyền Toàn cầu. Bùi Thị Minh Hằng đã tham gia vào các cuộc biểu tình ôn hoà liên quan đến Biển Đông hồi năm ngoái.

Chúng tôi kêu gọi Chính phủ Việt Nam thả bà Hằng và tất cả các tù chính trị, và khẳng định rằng không ai đáng bị bỏ tù vì thực hiện quyền tự do ngôn luận hay quyền hội họp ôn hoà hay bất cứ quyền con người nào được quốc tế công nhận. Hoa Kỳ vẫn thường xuyên thúc giục Chính phủ Việt Nam thả vô điều kiện mọi cá nhân bị bỏ tù vì bày tỏ quan điểm của mình.

Hợp tác về nhân quyền vẫn là một mặt quan trọng trong mối quan hệ song phương giữa hai nước. Chúng tôi tiếp tục thúc giục Chính phủ Việt Nam tôn trọng nhân quyền được quốc tế công nhận.

(hết thông cáo)

NguồnEmbassy of the US – Hanoi, Vietnam

Hết trích dẫn

Nước Vệ nói rằng ở nước họ không ai bị bắt vì bất đồng chính kiến.
Các nước khác chả ai tin, thật oan uổng cho Vệ. Vì sự thật đúng là như Vệ nói.

Nước Vệ từ thời lập quốc đến nay, trải qua 67 mùa xuân, bao lần bầu cử lần nào dân chúng cũng ủng hộ triều đình tuyệt đối. Người dân Vệ ai cũng đời đời ghi ơn công lao nhà Sản đã đổ xương máu của mọi người ra giành được triều đình về nhà Sản từ tay triều đình khác, ơn ấy dân chúng ghi lòng tạc da, dẫu thời thế đôi khi kém cơm, đói gạo cũng không vì thế mà có bụng khác.

Sứ thần nước nọ vốn tính đa nghi, hiếu sự hay thóc mách chuyện lạ lùng. Nghe thấy người Vệ nói ở đó không có ai bất đồng chính kiến, mới sinh bụng ngờ vực. Bèn nhân chuyến bang giao sang Vệ, đóng giả làm thương gia lân la quán chợ hỏi chuyện nhân tình, thế thái.

Bấy giờ là mùa đông, miền Bắc nước Vệ lạnh dữ dội. Sứ thần nghe trong quán rượu xì xầm chuyện xe ngựa bốc cháy nhiều. Mới đến gần bàn đám đó hỏi sao mà xe cộ, nhà cửa cháy nhiều thế. Người Vệ thấy khách lạ hỏi chuyện ai nấy đều lảng đi không trả lời, chủ quán vì không muốn làm khách ngoại quốc hiểu sai về người Vệ không cởi mở bèn chỉ cho khách đến gặp văn thư ở bộ Lại mà hỏi chuyện.

Văn thư bộ Lại nói rằng, đó là do nhà Sản được lòng trời, nên cháy nổ mới nhiều như vậy.

Khách há hốc mồm ngạc nhiên, xin hỏi rõ nguồn cơn.

Văn thư nói:
- Ông đi xa, biết rộng đọc nhiều. Há không biết là âm dương phải hài hòa, cân đối là điều tốt sao?

Khách gật đầu, văn thư nói:
- Bởi năm nay thời tiết lạnh giá, trời thương nước Vệ mới ban lửa xuống để cân bằng, mà lửa trời ban thì bí hiểm lạ thường. Cho nên chuyện nguyên nhân cháy cũng khác thường vậy thôi. Nơi khác thì cháy từ bếp ra, nước Vệ thì cháy từ ngoài đường cháy vào. Phải cháy lạ như vậy mới đúng là trời làm để nước Vệ bớt lạnh giữa mùa đông khắc nghiệt này.

Khách vốn không phải tay vừa, vì bản chất lắm chuyện mới hỏi vặn rằng:
- Biết đâu nước Vệ làm gì thất đức, động đến lòng trời thì sao. Ví như trời thời tiết lạnh giá thế này lại đem bắt người oan uổng, bất đồng chính kiến vào ngục tối giam cầm. Trời thương những người ấy lạnh lẽo mà làm lửa khác lạ như thế có ý nhắc nhở chăng?

Văn thư nghiêm mặt nói:
- Ở nước Vệ không có ai vì bất đồng chính kiến mà bị bắt cả, không tin tôi cấp giấy cho ông đi hỏi khắp nơi, muốn hỏi ai cũng được cho khách quan.
Nói rồi đóng triện, cấp giấy cho khách đi hỏi.

Khách cầm giấy ra chợ gặp một nho sinh, mời vào quán hỏi có biết ở nước Vệ có ai bất đồng chính kiến mà bị bắt không. Nho sinh nói:
- Nước Vệ không có ai làm bất đồng chính kiến cả, vì làm được như thế là điều rất khó. Muốn làm được điều ấy phải vượt qua nhiều hiểm nguy. Mà những hiểm nguy này được ghi rõ thành luật là bộ luật hình sự. Cho nên những người bất đồng chính kiến đều bị bắt bởi vi phạm luật hình trước khi kịp trở thành nhà bất đồng chính kiến.

Ngừng nhìn quanh rồi nói tiếp:
- Ví như một người có gì không đồng ý với triều đình, thì phải làm đơn nói rõ những điều mình không đồng tình. Dán kín thư không cho ai biết nội dung và gửi đến bộ phận tiếp đơn của nhà Sản.

Khách hỏi:
- Sao phải dấu kín, như thế ai biết là bất đồng chính kiến?

Nho sinh cười sằng sặc:
- Hay là ở chỗ ấy, ông bất đồng chính kiến thì phải không để ai biết ông là bất đồng. Này nhé ở Vệ có tội cấm tán phát, tuyên truyền tài liệu nói xấu nhà Sản. Nếu ông ấm thâm gửi đơn cớ đến thẳng bộ phận quản lý triều đình, không ai biết ngoài cái nơi nhân thì được gọi là ý kiến đóng góp đa chiều. Ông trở thành nhà bất đồng chính kiến không ai biết. Nhưng nếu ông phán tán cái tờ cớ của ông, trong đó nói nhà Sản phải thay đổi, làm thế này, thế kia vì thế nọ…rõ ràng là ông sẽ bị khép vào tội lợi dụng quyền tự do ngôn luận phỉ báng triều đình. Thế là ông đi tù khi chưa kịp trở thành nhà bất đồng chính kiến là vậy. Đương nhiên nếu thế thì đúng nước Vệ bắt người tuyên truyền, phỉ báng triều đình chứ có bắt người bất đồng chính kiến đâu.

Khách hặc:
- Thế gửi đơn đến họ không trả lời sao?

Nho sinh:
- Thì lại gửi đơn tiếp, gửi năm này sang năm khác, tháng này sang tháng khác.

Khách:
- Cứ gửi liên miên thế thôi à?

Nho sinh:
- Thưa vâng, cứ gửi âm thầm như thế thôi, được trả lời hay không, đơn mình có được xem hay không tuyệt không được bức xúc. Có thế mới là người bất đồng chính kiến thật sự.

Khách hậm hực:
- Thế xin ngài đưa tôi đi chứng kiến một người bất đồng chứng kiến thật sự như ngài nói.

Nho sinh cười hô hố nói rằng:
- Nói từ nãy ông không hiểu, nếu mà ông biết người ấy là bất đồng chính kiến thì họ đâu còn là vậy nữa. Thậm chí đơn của họ gửi người ta cũng không thèm đọc xếp vào xó, cho nên chính triều đình cũng không biết có bất đồng chính kiến vì có ai đọc họ viết gì đâu mà biết.

Khách:
- Thế là sao?

Nho sinh:
- Thì nếu ông biết họ, thì họ đã bị bắt vì tôi liên tiếp gửi đơn thư khiếu nại sai sự thật, gây phiền hà cho cơ quan nhận đơn. Xét thấy hành vi chưa đủ đưa ra xét xử, nhưng vi phạm nhiều lần nên cho tập trung vào trải cải tạo để giáo dục.

Khách:
- Lại còn có chuyện thế nữa sao?

Nho sinh cười sằng sặc:
- Ấy thì ông chỉ gặp kẻ kém phẩm chất, cần phải giáo dục chứ đâu còn gặp nhà bất đồng chính kiến.

Khách nghe xong đầu óc ù ù như hàng trăm con ong, nghìn tiếng sấm trong đầu, ngã lăn quay ra bất tỉnh.

Đại Vệ Chí Dị 42

Nước Vệ triều nhà Sản năm thứ 67 – Vệ Kính Vương năm thứ hai.

Vệ Kính Vương họp quần thần đầu năm. Khiển trách một số quan lại có tư tưởng thoái hóa, biến chất. Nhưng pháp luật nhà Sản vốn nhân từ, cho nên Vương chỉ nhắc nhở và răn đe quần thần, quan lại tự phải kiểm điểm mình.Thay đổi bản chất cho phù hợp với thời cuộc hơn. Những quan lại năm ngoái còn lo nơp nớp vì vướng tội, nghe Vương phán thế đều thở phào nhẹ nhõm. Kết thúc buổi chầu, bá quan ai nấy đều hân hoan tung hô: "Vệ Vương thật nhân từ."

Thế là theo lệ cũ, Vương mới nên ngôi thường đại xá để lấy đức mà thu phục thiên hạ. Cho nên những chuyện rắc rối, bê bối từ những năm trước như ngành tàu biển, tài chính, khai khoáng, năng lượng đều được xí xóa. Quan lại nhờ thế mà có tinh thần, hăng hái quyết tâm năm mới phấn đấu xây dựng nước nhà ngày càng phát triển hơn nữa.

Ban tuyên huấn tư tưởng nhà Sản ca ngợi ơn đức của triều đình, ơn mưa móc nhân hòa trải khắp bốn cõi từ tể tướng, thượng thư đến công sai, lính gác đều được tắm táp đầy đủ. Năm ấy những công sai đánh chết người đều được giảm thành tội ” làm chết người trong lúc thi hành công vụ ” hoặc không khởi tố ” vì thiếu bằng chứng hay bằng chứng không rõ nguồn gốc”. Lòng quan quân ai nấy đều cảm kích hăng hái hướng về triều đình hứa tận trung bảo vệ triều đình bền vững đến thiên thu, vạn đại.

Phàm phép trị nước, phải có đủ ân và uy. Đối với người mình có lầm lỡ thì khuyên nhủ để họ đoái công chuộc tội, đối với kẻ địch phải cương quyết triệt để như lời di huấn của tiên đế. Năm đó hằng hà vô số quân phiến loạn, bọn hủ nho nói sàm, bọn dân oan cứng đầu, bọn chức sắc tôn giáo, bọn tín đồ mê muội…đều bị quan quân triều đình tầm nã gắt gao bắt bỏ vào lao ngục. Bấy giờ luật lệ để ghép tội bọn này còn thiếu, khiến công sai bộ Hình nhiều khi lung túng phải dựa cả vào luật từ thời thượng cổ, thuở khai sinh, lập quốc là luật ” tập trung giáo dục cải tạo” để bắt gom người gây khó chịu về uy tín của triều đình. Luật này đàn bà, con trẻ cũng không từ khiến người phụ nữ yêu nước ở phía Nam vì ghét quân Tề quấy nhiễu bờ cõi mà thất lễ với quan quân phải vào trại cải tạo để phục hồi nhân phẩm.

Năm đó quan quân nhà Sản bắt nhiều người lắm, trải từ Nam ra Bắc đủ mọi thành phần, con cháu công hầu khai quốc công thần đến thanh niên, học trò nhiều vô kể. Tất cả chung quy đều là tội yêu nước không đúng cách.

Chung quy tại nước Vệ dưới thời nhà Sản từ khi khai quốc phải chống ngoại xâm liên miên, dân tình quen thói yêu nước là phải chống ngoại xâm hăng hái. Thế nhưng thời nhà Sản sau này bốn phương yên bình,ngoài khơi ngư dân thong thả đánh bắt hải sản bốn mùa, trên núi tiều phu tha hồ rong ruổi tìm trầm, gỗ quý. Doanh nhân nhàn nhã làm ăn. Thật là thời thái bình thịnh trị gấp vạn lần đời vua Thái Tổ, Thái Tông. Thời như thế đáng ra yêu nước là phải chí thú làm ăn, có tiền bạc dư thừa thì đầu cơ vào đất đai, chứng khoán, tín dụng để trước là lợi nhà, sau là ích nước. Chỉ vì không thức thời mà một số người do thiếu hiểu biết, không nắm bắt được xu hướng của thời thế đã quen thói bồng bột từ thời ngoại xâm, nóng lòng phản kháng Đại Tề. Đại Tề là nước thâm giao với Vệ, tình hữu nghị khăng khít keo sơn, lúc Vệ khó khăn Tề cho người sang bày cách trị dân, cách làm ăn, khai khoáng..bán những đồ mà Vệ không sản xuất được như hàng tiêu dùng, mua và khai thác, trồng trọt giúp những thứ Vệ làm chưa được như quặng, mỏ, nông lâm thổ sản.

Thế nước đang lên như rồng bay gặp mưa, nhà Sản bắt đám ấy để trước là ổn định xã hội hai là để tỏ uy phong của triều đình. Bọn tuyên huấn bảo triều đình làm thế cũng là vì nước vì dân cả.

Nhà Sản thể hiện ân uy đâu ra đấy. Quan quân thì mững rỡ cảm tạ ơn đức triều đình ra sức giúp rập việc cai trị, bọn hủ nho thì khiếp hãi trước luật pháp ngiêm ngặt. Đóng cửa mà vờ cáo ốm, kẻ thì lảng tránh về quê tảng là chữa bệnh, đám thì quay lại chí thú làm ăn.

Mùa xuân năm mới, cờ hòa xưng tục ơn đức triều đình tưng bừng rộn rã khắp phố phường. Lời ca ngợi triều đình liên miên không ngớt. Nước Vệ vua sáng, tôi hiền, dân lành chăm chỉ thật là một nước thái hòa.

Chủ Nhật, 1 tháng 1, 2012

Thứ Tư, 28 tháng 12, 2011

Những lời phát biểu hay nhất năm 2011

Phát biểu "dân chủ" nhất: “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, biết kế thừa những tinh hoa dân chủ của các nhà nước pháp quyền trong lịch sử và đã, đang phát triển lên tầm cao mới, khác hẳn về bản chất và cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản”
- Đồng chí Nguyễn Thị Doan, giáo sư tiến sĩ phó chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam 

Phát biểu "nhân quyền" nhất: "…hãy nhìn ra nước ngoài để thấy rõ hơn những thành tựu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong lĩnh vực nhân quyền."
- Đồng chí thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, thứ trưởng bộ công an. 

Phát biểu "rau muống" nhất: “..Tôi đi các nước thấy giá tiêu dùng đắt đỏ, một đĩa rau muống xào ở Thượng Hải tới 200 nghìn đồng, nhưng ở Việt Nam chỉ mấy chục nghìn. Trong nước tôi đi chợ rau muống ở đô thị có thể 5.000 đồng/mớ, đi xuống vùng nông thôn chỉ 2.000, xuống nữa có khi rẻ hơn... Rất nhiều hàng hóa của mình được giảm giá, đồng tiền của mình về Việt Nam được tự do, có giá trị. Cần xem lại đánh giá chỉ tiêu lạm phát này xem có đúng không, theo tôi không phải là cao nhất
- Đồng chí Đỗ Văn Đương, đại biểu quốc hội 

Phát biểu "đau mông" nhất: Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 2 và tàu Viking 2 của ta, chẳng qua chỉ là… là “yêu cho đòn cho vọt”
- Đồng chí Nguyễn Duy Chiến, phó chủ nhiệm ủy ban biên giới quốc gia của bộ ngoại giao Việt Nam 

Phát biểu "thái thú" nhất: "kiên quyết xử lý vấn đề tụ tập đông người ở VN với tinh thần không để sự việc tái diễn."
- Đồng chí thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh về vấn đề biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội và TP. HCM 

Phát biểu "dại gái" nhất: “Một thực tế hiển nhiên là Trung Quốc cam kết không lấy đất, lấy biển của Việt Nam"
- cũng là đồng chí thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh 

Phát biểu "hiếu thảo" nhất: “...nhân dân Việt Nam luôn luôn ghi nhớ với lòng biết ơn sâu sắc sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của đảng, chính phủ và nhân dân Trung Quốc giành cho nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây và sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay...”
- Đồng chí tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng  

Phát biểu "lạnh lùng" nhất: "Tình hình biển Đông không có gì mới"
- Lại là đồng chí tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng 

Phát biểu "cao siêu" nhất: “Nói biển Đông không phải chỉ là biển Đông. Nói biển Đông không phải chỉ quan hệ ta với Trung Quốc. Nói biển Đông không phải toàn bộ vấn đề biển Đông, nó chỉ có một cái chỗ quần đảo Hoàng Sa với lại quần đảo Trường Sa …”
- Vẫn là đồng chí tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng  

Phát biểu "có tính lịch sử" nhất: Điểm lịch sử thấp là vấn đề của thời đại… Việc có hàng ngàn điểm 0 trong kỳ thi tuyển sinh đại học- cao đẳng vừa qua là vấn đề bình thường”
- Bộ trưởng giáo dục & đào tạo Phạm Vũ Luận. 

Phát biểu "đau lòng” nhất: "Là tổng giám đốc, tôi rất đau lòng khi lương của cán bộ tập đoàn chỉ có ngần đó"
- Tổng giám đốc tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) Phạm Lê Thanh (ngần đó là mức lương trung bình 7,3 triệu đồng/người/tháng của năm 2009, 8,3 triệu đồng/người/tháng của năm 2010 và 8,6 triệu đồng/người/tháng của năm 2011) 

Phát biểu có "nhiều sâu" nhất: “Trước kia chỉ có một con sâu làm rầu nồi canh. Nay thì nhiều con sâu lắm! Nghe mà thấy xấu hổ. Không nhẽ cứ để mãi như vậy, mai kia người ta nói là cả một bầy sâu, tất cả là sâu hết. Thế đâu có được! Một con sâu đã nguy hiểm rồi. Một bầy sâu là chết cái đất nước này!”
- Đồng chí chủ tịch nước Trương Tấn Sang. 

Phát biểu "vàng mắt" nhất: “Dân có vàng thì dân giàu, mà nhà nước giữ vàng (của dân) thì nhà nước sẽ mạnh”
- Đồng chí thống đốc ngân hàng nhà nước Nguyễn Văn Bình. 

Phát biểu "chạy làng" nhất: “Xảy ra chuyện như Vinashin, cuối cùng thủ tướng đứng ra nhận trách nhiệm. Tôi nhận trách nhiệm chính trị với tư cách người đứng đầu chính phủ, chứ tôi cũng không ra quyết định nào sai"
- Đồng chí thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và vụ Vinashin 

Phát biểu "dạy đời" nhất: “Triển khai hiệu quả lộ trình dân chủ, vì hòa giải và hòa hợp dân tộc, tổ chức bầu cử công bằng, dân chủ, với sự tham gia của tất cả các đảng phái. Qua đó, sớm ổn định và tập trung phát triển đất nước Myanmar”
- Đồng chí thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khuyên chính phủ Myanmar (và họ đang làm theo đúng như vậy) 


Sai lầm "kỹ thuật" nhất: "Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội đã được thông báo đây là sai sót mang tính kỹ thuật. Cục Lễ tân Nhà nước đã nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm và kỷ luật các cán bộ có liên quan"
- Bộ ngoại giao Việt Nam giải trình vụ dùng cờ Trung Quốc 6 sao đón Tập Cận Bình.  

Lời hứa "trớt quớt" nhất: “Tôi chỉ thực hiện lời hứa với các nhà văn. Còn cụ thể vì sao cần có luật nhà văn (nhà thơ) thì tôi cũng… chưa nghĩ ra!”
- Đồng chí đại biểu quốc hội Nguyễn Minh Hồng - đề xuất luật nhà văn. 

Lời chia buồn "mùi mẫn" nhất: “Vô cùng thương tiếc đồng chí Kim Jong Il, Tổng bí thư Đảng Lao động Triều Tiên, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng CHDCND Triều Tiên, Tổng tư lệnh tối cao Quân đội nhân dân Triều Tiên, vị Lãnh tụ kiệt xuất của Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân đội nhân dân Triều Tiên; người bạn, người đồng chí thân thiết của Đảng, Nhà nước, nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam. Đồng chí Kim Jong Il không còn nữa, nhưng tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí Kim Jong Il sống mãi trong trái tim của nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam. Chúng tôi tin tưởng rằng, nhân dân và Quân đội nhân dân Triều Tiên anh em sẽ vượt qua đau thương và tổn thất to lớn này, đoàn kết một lòng, tiếp tục nỗ lực xây dựng, phát triển, bảo vệ đất nước Triều Tiên hòa bình, thịnh vượng”.
- Đồng chí đại tướng Phùng Quang Thanh, bộ trưởng bộ quốc phòng. 

"Chém gió" nhất: "Để thực hiện kế Liên Hoành, việc đầu tiên phải làm – nhưng khó trở thành hiện thực – là Saddam Hussein phải cử tôi làm Đặc Sứ Toàn Quyền Extraordinary and Plenipotentiary của Iraq để tôi có uy thế gặp Tổng Thống Mohammad Khatami và Chủ Tịch Kim Jong Il, dùng khả năng hùng biện để bảo đảm đạt được sự đồng thuận của các vị này..."
- Đồng chí Hoàng Hữu Phước, đại biểu quốc hội

"Điều nhất thiết phải khẳng định ở đây là ngay từ khởi thủy và cho tới tận ngày nay biểu tình là để chống lại Chính phủ nước mình hoặc chống lại một chủ trương của Chính phủ nước mình... Cuộc biểu tình chiếm phố Wall suốt 2 tháng nay tại NewYork và hơn 20 thành phố lớn ở Mỹ vừa bị cảnh sát ra tay dẹp do tình trạng bẩn thỉu, mất vệ sinh, ẩu đả, trộm cắp và hiếp dâm xảy ra tại các nơi biểu tình làm ô danh nước Mỹ. Việt Nam chưa phải là siêu cường kinh tế để có thể đài thọ cho một sự ô danh..."
- Đồng chí Hoàng Hữu Phước chém thêm cú nữa.

"TQ không sợ bất kỳ quân đội nào của thế giới. TQ chỉ sợ quân đội của Đảng Cộng Sản VN...Bọn đòi đa đảng là nhằm xóa sổ ĐCSVN...xóa sổ ĐCSVN đồng nghĩa với thủ tiêu tất cả các tướng lĩnh Cộng Sản của quân đội VN...TQ không trông mong gì hơn là VN có đa đảng, vì ngay khi bọn đa đảng xóa sổ được ĐCSVN, TQ sẽ xua quân đánh chiếm toàn bờ cõi VN trong vòng 8 giờ làm việc". 
- Đồng chí Hoàng Hữu Phước, cho thêm một... nhát nữa.

Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2011

VINASHIN - Như một điển hình

VINASHIN - Như một điển hình

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA Ngày 20111221
 
Trong loạt bài tổng kết về tình hình kinh tế cuối năm, Diễn đàn Kinh tế chọn một đề tài có thể là tiêu biểu cho các khó khăn nhiều mặt của Việt Nam. Đấy cũng là ý kiến của chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà tư vấn của đài Á châu Tự do. Sau đây là phần trao đổi do Vũ Hoàng thực hiện.

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Vào dịp cuối năm và cũng để tổng kết về tình hình kinh tế, hình như hồ sơ của Tập đoàn Kinh tế Nhà nước Vinashin của Việt Nam có thể là một điển hình về nhiều khía cạnh. Ông nghĩ sao về ý kiến này?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa tôi cho rằng ngay từ đầu và từ trên đầu xuống, Tập đoàn Vinashin đã có những tiêu biểu về sự bất toàn của hệ thống kinh tế và chính trị của Việt Nam. Vụ khủng hoảng ngày nay là một kết quả tất yếu, với hậu quả sẽ bất lợi cho Việt Nam trong thời gian tới. Vì vậy, việc nhắc lại hồ sơ Vinashin cũng là một tổng kết cần thiết.

Vũ Hoàng: Nếu như vậy và theo phương pháp đã quen thuộc với thính giả, xin đề nghị ông trình bày cho bối cảnh của hồ sơ này. Trước nhất tại sao ông lại nói là "từ đầu và từ trên đầu xuống"?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chúng ta không quên bối cảnh của sự việc này bắt nguồn từ 15 năm trước với việc thành lập loại Tổng công ty vào năm 1996. Sau đó là chọn lựa của Đại hội Khóa 10 đảng Cộng sản Việt Nam vào Tháng Tư năm 2006. Từ đấy, Chính phủ Việt Nam mới có hai Quyết định số 103 và 104 do Thủ tướng ban hành vào Tháng Năm và Tháng Sáu năm đó để, thứ nhất phê duyệt Đề án Thí điểm hình thành Tập đoàn Kinh tế từ Tổng công ty và, thứ hai, thành lập Tập đoàn Công nghiệp Tầu thủy Việt Nam, gọi tắt là Vinashin. 

- Kỳ vọng của việc tập trung và nâng cấp các đơn vị sản xuất quốc doanh thành tập đoàn kinh tế nhà nước là tạo ra những "quả đấm thép". Đó là giấc mơ "vĩ cuồng" từ trên đầu xuống, tương tự như dự án xe lửa cao tốc vậy. Khi thực hiện thì ta có hiện tượng "loạn chiêu" của tay chân.

Vũ Hoàng: Ông dùng những từ rất lạ là "vĩ cuồng từ cái đầu" và "loạn chiêu ở tay chân". Đó là gì?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - "Vĩ cuồng" là phản ứng mơ chuyện vĩ đại của cái đầu chủ quan duy ý chí mà không thấu hiểu quy luật kinh tế cơ bản nên cứ tưởng rằng lãnh đạo mà muốn là được. Họ càng tin tưởng chuyện cuồng dại ấy vì không ai có quyền phản biện và xã hội không có tự do thông tin để minh bạch hoá tiến trình quyết định.

- "Loạn chiêu" là khi ở dưới chấp hành quyết định ở trên mà tổ chức ra tập đoàn Vinashin này. Cơ cấu tổ chức của Vinashin biểu hiện tình trạng hỗn loạn đó. Cốt lõi chỉ là công ty trách nhiệm hữu hạn có 100% vốn của nhà nước với bốn chi nhánh và một số cơ sở gọi là sự nghiệp.

- Nhưng cái lõi đó lại phát triển ra mười mấy công ty con, hơn hai chục công ty cổ phần, hơn một chục đơn vị hạch toán phụ thuộc, 11 công ty liên doanh, bảy đơn vị sự nghiệp có thu, bảy đơn vị phụ thuộc, ba chục công ty cổ phần do tập đoàn này giữ tỷ lệ chi phối về vốn. Vị chi là hơn một trăm đơn vị sản xuất đã từ một lĩnh vực ban đầu là đóng tầu bành trướng ra dịch vụ hàng hải, tài chính, bảo hiểm và rất nhiều sinh hoạt khác. Quả đấm thép trở thành mớ bùi nhùi như nhiều tập đoàn khác.

Vũ Hoàng: Nhưng thưa ông, ở trên có thấy ra chuyện ấy không mà vì sao lại để như vậy?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng đấy mới là khía cạnh tiêu biểu của các gọi là "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa". Đó là một hệ thống tất nhiên gây ra hiện tượng tự tung tự tác mà không ai bị trách nhiệm. Chúng ta phải trở lại từ đầu, từ trên đầu xuống.

- Người chỉ huy việc điều hành công ty này đều phải là đảng viên được Ban Tổ chức đảng chấp thuận trước khi được Chính phủ bổ nhiệm. Trong cơ cấu tổ chức, Tập đoàn phải có bộ phận kiểm soát của đảng, có thẩm quyền hơn Hội đồng Quản trị, Chủ tịch hay các Tổng giám đốc và còn có thực quyền hơn ban Thanh tra của Chính phủ. Thực tế thì đây là cơ sở kinh tài cho đảng lại ôm thêm mục tiêu kinh doanh sản xuất cho kinh tế quốc dân và lẫn lộn về chức năng. Trong nội bộ, họ có đảng ủy vẫn sinh hoạt thường xuyên, lại còn liên lạc và toa rập với đảng ủy các địa phương cho một số dự án bất chính. Vì vậy, ta có một cơ sở sản xuất được giao phó nhiều mục tiêu mà có mục tiêu lại không được công khai hóa. Tình trạng nhập nhằng ấy là cơ hội cho đảng viên bất lương phát huy sáng kiến mà khỏi sợ bị kiểm soát hay kỷ luật nhờ đảng tính đảng tịch của mình.

- Hậu quả là khi khủng hoảng bùng nổ - mà nó manh nha từ nhiều năm trước rồi – cuối Tháng Bảy năm ngoái Bộ Chính trị mới kết luận rằng Tập đoàn Vinashin có yếu kém và sai phạm nghiêm trọng. Mà rốt cuộc cũng không xử lý hay kỷ luật bất cứ một cá nhân hay tập thể nào và chỉ yêu cần kiểm điểm để tự phê. Đáng phê bình hơn cả là hệ thống kinh tế chính trị đã bảo vệ chế độ công hữu và bịt kín thông tin nên để xảy ra tình trạng lũng đoạn công sản.
 

Định hướng XHCN

 
Vũ Hoàng: Một số dư luận cho rằng Vinashin cũng là nạn nhân bất ngờ của những biến động kinh tế trong các năm 2008-2009. Theo như phân tích của ông, thì sự thật là như thế nào?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Ta trở lại "chuyện nhân duyên" về kinh tế mà diễn đàn này hay nói tới.

- Cái "nhân" của khủng hoảng thì đã có từ lâu nên khủng hoảng là tất yếu. Cái "duyên" là nạn tổng suy trầm toàn cầu khiến thiên hạ hết tiền và bớt lạc quan nên mới phơi bày ra chứng tật hữu cơ đã nằm sâu trong Tập đoàn.

- Thứ nhất, ngay từ năm 2006 trở về sau, nội bộ Vinashin đã có cả chục lần thanh tra, giám sát, kiểm tra, kiểm toán và phát hiện nhiều sai phạm mà giới điều hành không sửa mà còn tìm cách che giấu sự sai phạm. Hiển nhiên là họ tin vào thế lực bảo vệ ở đằng sau hay ở trên.  
 
- Thứ hai, cũng từ năm 2006, Vinashin còn bung ra khắp nơi với đủ loại dự án, từ Móng Cái tới Cà Mau, từ Thái Bình Nam Định đến Quảng Bình, Quảng Ngãi tới Hậu Giang, Đồng Tháp. Trong việc mời chào và quảng cáo cho các dự án hoang tưởng vĩ đại, họ được các tỉnh mau mắn hợp tác, mà chủ yếu là bằng đất của dân. Đấy là cơ hội cho nhiều đảng viên địa phương làm giàu, dân bị mất đất mà chờ mãi chẳng thấy công ăn việc làm từ các dự án mơ hồ này. Người ta có thể đã kiểm tra những sai phạm kế toán tài chính rồi nói đến chuyện Tập đoàn Vinashin mất 80.000 tỷ đồng, mà chưa tính ra thiệt hại kinh tế tràn lan ở nhiều nơi vì lề lối làm ăn tự tiện đó.

- Rồi lồng trong một chuỗi bất cẩn và bất lương mới là chuyện đi vay ngoại quốc với lãi suất hạ nhờ sự bảo lãnh mặc nhiên của nhà nước. Như vậy, vì ngần ấy dự án thất bại chứ chẳng phải do nạn khủng hoảng kinh tế Tập đoàn Vinashin mới bị nguy cơ vỡ nợ vì không thanh toán nổi khoản nợ đáo hạn với nước ngoài từ cuối năm ngoái.
 
Vũ Hoàng: Thưa ông, từ chuyện quản lý, ta bước chuyện vay mượn. Phải chăng là nhờ thế lực nhà nước mà Tập đoàn Vinashin có thể vay quá sức trả như vậy?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chuyện vay mượn của Tập đoàn Vinashin cũng phản ảnh cái định hướng xã hội chủ nghĩa mà các chủ nợ nước ngoài đang hiểu ra. Nếu họ có bị mất vốn thì cũng là một cách trả tiền bài học về rủi ro tín dụng và chính trị!

- Trước hết, chưa ai rõ Vinashin có tài sản là bao nhiêu và đã vay bao nhiêu, từ những ai, ở trong và ngoài nước. Nhờ các nhà tài trợ ngoại quốc lên tiếng khi khởi tố thì người dân mới hiểu ra chuyện động trời. Đó là Tập đoàn này mắc nợ từ ba tỷ đến bốn tỷ tư, tính bằng đô la. Làm sao họ có thể vay tiền đến như vậy nếu không là một tập đoàn kinh tế nhà nước với số vốn của công ty mẹ là 100% của nhà nước?

- Chuyện thứ hai là khi vay đô la bằng phát hành trái phiếu trên thị trường quốc tế, Vinashin được lãi suất thuộc loại ưu đãi như phân lời của công trái, của công khố phiếu, vì có thư bảo lãnh của Chính phủ Việt Nam vào Tháng Bảy năm 2007. Vì sự nhập nhằng ấy, Vinashin được công ty lượng cấp trái phiếu Standard & Poor's đáng giá ngang hàng chính phủ Việt Nam.


- Khi Vinashin trễ hạn hoàn trái ngân khoản 600 triệu bị các chủ nợ khiếu nại thì nhà nước Việt Nam lại tuyên bố không chịu trách nhiệm và công ty nào vay thì phải trả. Không chỉ trốn nợ, chính quyền còn có biện pháp thực tế là giúp con nợ tẩu tán tài sản qua Quyết định số 2108 ngày 18 Tháng 11 năm ngoái để tránh bị sai áp. Họ gọi đó là "tái cơ cấu", là chuyển giao 11 dự án và nhiều khoản vốn khác của Vinashin qua Tập đoàn Dầu khí và Tổng công ty Hàng hải.

Vũ Hoàng: Nhưng thưa ông, cũng có người cho rằng quyết định không trả nợ của Chính phủ Việt Nam còn là tín hiệu cho các tập đoàn nhà nước là từ nay sẽ không thể ỷ thế nhà nước mà vay liều được nữa. Lý luận ấy có đúng không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi cho rằng tín hiệu như vậy là cần thiết, mà phải là quyết định từ cấp có thẩm quyền nhất, từ Bộ Chính trị tới Chỉnh phủ. Nhưng là chỉ thị với doanh nghiệp của mình. Với các chủ nợ ngoại quốc thì cách xù nợ như vậy chưa chắc là khôn ngoan vì làm xoi mòn niềm tin của giới đầu tư và cụ thể là khiến doanh nghiệp khó huy động vốn sau này. Lãnh đạo Hà Nội có khi nhìn chuyện ký kết hiệp định và cam kết theo tiêu chuẩn khác người về danh dự và uy tín. Trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn và đầu tư sẽ còn khan hiếm hơn, tiêu chuẩn ấy là cực bất lợi và càng khiến Việt Nam bị xuống cấp tín dụng và mất khả tín. Từ nay về sau, giới đầu tư sẽ thủ thế trong từng hợp đồng để tránh thủ thuật kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
 

Tai họa cho uy tín chính phủ


Vũ Hoàng: Bây giờ, đến việc công ty Elliot đã khởi tố Vinashin trước Toà Thượng thẩm của Anh vào cuối Tháng 11 vừa qua. Vụ việc như thế nào và hậu quả sẽ ra sao?  
 
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Elliot Advisers LP là một quỹ đầu tư đối xung hay hedge fund của Mỹ. Nhưng biệt tài khiến họ có hỗn danh của loại hình đầu tư "muông thú" hay "vultur fund" là tìm mua giấy nợ với giá bèo từ loại khách nợ suy yếu. Đó là doanh nghiệp sắp phá sản hay chính quyền sắp vỡ nợ đã lỡ vay trăm bạc mà xin trả có vài chục thôi. Thật vô phúc cho xứ nào gặp phải loại kên kên như vậy, vì họ ráo riết kiện để lấy lại nguyên giá của giấy nợ cộng thêm tiền lãi và phí tổn khác.

- Trong khoản nợ 600 triệu đô la có 60 triệu đáo hạn mà không trả, Elliot mua vào một số nhỏ, cả vốn lẫn lời thì chỉ hơn 13 triệu đô la. Nhưng với tư thế là khách nợ, công ty khởi kiện để đòi được trả nguyên giá 100% thay vì 35% như phía Việt Nam có vẻ thoả thuận. Elliot kiện Vinashin tại tòa Thượng thẩm Anh vì nơi đây có thẩm quyền giải quyết vụ vay mượn vốn dĩ đã do các ngân hàng, đứng đầu là Credit Suisse, dàn xếp, làm trung gian phát hành giấy nợ và thực tế là cũng cho vay. Elliot đứng đơn là bên nguyên, bên bị là Tập đoàn Vinashin và cả các chi nhánh hay công ty con đã được Việt Nam đẩy qua cho hai Tập đoàn Dầu khí và Hàng hải. Theo luật pháp thì đấy là vi phạm hợp đồng đi vay nên tôi mới gọi là tẩu tán tài sản để khỏi bị sai áp.

Vũ Hoàng: Thưa ông, kết cuộc thì sự thể sẽ ngã ngũ ra sao mình có thể dự đoán thế nào? 
 
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Công luận thế giới thường không ưa và rất ngại loại kên kên muông thú như vậy. Nhưng khi Việt Nam để một quỹ đầu tư như Elliot kiện ra toà thì đấy là một tai họa cho uy tín mà càng tìm hiểu thì dư luận càng thấy sự sai trái không xử lý trong hồ sơ Vinashin. Bao nhiêu công lao tuyên truyền lâu nay sẽ thành công cốc!

- Tôi không tin rằng Elliot sẽ ngừng ở đó mà sẽ huy động các chủ nợ khác mở ra một vụ khiếu kiện tập thể theo tiêu chuẩn của quốc tế. Khi ấy, không có một con mà một bầy kên kên cùng đánh hợp đồng theo kiểu xa luân chiến và trước toà thì nhiều sự thật khác tai hại còn được phơi bày. Việt Nam có thể ngăn chặn việc sai áp tài sản trên lãnh thổ của mình, nhưng cứ ló đầu ra ngoài thì bị đòi nợ, tài sản bị tịch biên thì còn gì là danh dự? Chuyện đáng buồn ở đây là cái vỏ quít tưởng là dày lại gặp móng tay nhọn, mà vỏ quít lại chỉ bao che cho sự tồi tệ của cả hệ thống. 
 
Vũ Hoàng: Câu hỏi cuối thưa ông, liệu vụ kiện tụng này có thể dàn xếp được không?


Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chúng ta chưa thể biết được, nhưng tôi trộm nghĩ rằng họ kiện là để dàn xếp và Chính quyền Việt Nam sẽ bị tổn thất. Vấn đề là tính toán xem tổn thất về mặt này mặt kia, về tiền bạc hay uy tín chẳng hạn, cái nào là ít hại nhất. Mà chuyện lợi hại này không chỉ nhất thời vì có ảnh hưởng lan rộng và lâu dài như người ta đã thấy tiền lệ là các vụ kiện xứ Argentina, Congo hay Peru. 

- Kết luận ở đây không là vỏ quít hay cái móng tay mà là "quít làm cam chịu" vì Vinashin không là trường hợp duy nhất và nạn nhân của cả bi hài kịch Tập đoàn Kinh tế Nhà nước chính là người Việt Nam. Họ đã mất đất mà còn phải nộp thuế để nhà nước trả món nợ do một thiểu số bất lương gây ra, dưới sự bao che của đảng và nhà nước.

Vũ Hoàng: Đài Á châu Tự do xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc phỏng vấn này. 
 
http://dainamaxtribune.blogspot.com/2011/12/vinashin-nhu-mot-ien-hinh.html