Thứ Sáu, 24 tháng 8, 2012

Đại Vệ Chí Dị 50

Nước Vệ triều nhà Sản năm thứ 67.

Vệ Kính Vương năm thứ hai, ngày Ất Mão, tiết Lập Thu ở phía bắc ngoại ô kinh thành phát hiện được một vụ giết người. Người chết là nữ, bị chặt đầu treo trên xà nhà, xác vất dưới bếp.

Nước Vệ ngày càng nhiều chuyện giết nhau ghê gớm như cơm bữa. Dân tình thảm sát lẫn nhau hàng ngày. Người ta giết nhau trực tiếp bằng dao chưa đủ. Còn vì mưu lợi mà trộn thuốc độc hại vào thực phẩm để trục lợi khi mua bán, người chết dần vì bệnh ngày càng đông. Ở nhà thương lúc nào cũng chật kín người bệnh. Đã thế trời lại không khoan dung cho cái xứ ấy, làm mưa, khiến lũ liên miên, năm nào cũng có vô số người chết vì thiên tai. Chỉ cơn mưa to là chết mấy chục mạng, đừng nói chi là bão lũ.

Gần Châu Diễn có cỗ xe chở người hành hương, qua địa phận đó bỗng lao xuống vực sâu. Trước đó sập hầm ở đây chết rất nhiều người. Châu Diễn là nơi phát tích của nhà Sản, quê hương của tiên đế. Chả hiểu sao mấy năm gần đây ở phía ấy loạn lạc, cướp phá, tai nạn, lũ lụt xảy ra liên miên. Đại thần nghị chính kiêm tổng quản nghị trường là Sanh gốc ở nơi ấy, Sanh cằm vuông, môi mỏng, mắt rắn, trán bóng thuộc loại thâm trầm, kín kẽ, nhiều mưu kế. Sợ long mạch quê nhà động mới vờ làm cái đền thờ thân quyến tiên đế. Thực ra là trấn yểm cho mệnh của mình. Đền khởi công dịch bệnh, thiên tai vẫn không dứt, thậm chí còn hoành hành khắp cả nước. Người ở chợ có kẻ nói rằng có lẽ long mạch hở từ lâu, giờ chả còn nguyên khí, có hàn hay trấn lại cũng chả ăn thua. Khí trời chỉ cho từng ấy là tận, còn đâu mà giữ nữa.

Vệ Kính Vương là người không tin vào chuyện hoang đường, ngài vốn là học sĩ của thuyết duy vật, trình độ uyên bác, lập luận biện chứng dựa trên khoa học, thực tế. Kính Vương cho rằng chẳng phải vì khí số nhà Sản tận, mà chẳng qua do quan lại triều đình tham nhũng, quan liêu gây ra. Xưa nay đức năng thắng số là chuyện thường. Vệ Kinh Vương mới ban lệnh kiểm điểm tư cách, trình độ quan lại trong triều.

Ngày Quý Sửu tháng Ngâu, nhân đêm tối, triều đình bủa vây biệt thự của Bạch Thủ đại gia ở phường Quảng Yên phía Bắc kinh thành, bắt về ngục tối chờ xem xử vì tội lũng đoạn nền kinh tế. Bạch Thủ đại gia giàu nứt đố, đổ vách, thuộc hàng phú gia địch quốc, chỗ nào cũng có cổ phẩn, hùn vốn. Tin Bạch Thủ đại gia bị bắt khiến thị trường xao động, ngành tín dụng sụt giảm thê thảm. Triều đình lập tức xuất kho bạc ra ứng cứu ngành tín dụng. 

Bạc vừa trong kho xuất ra, chưa đến nơi thì các bộ ngành thuộc quyền của tể tướng Bạo đã ngấp nghé nâng giá những mặt hàng thiết yếu, dù trước đó vừa tăng giá xong.

Trong nước chính sự, đời sống, kinh tế rối loạn. Giá cả leo thang, bệnh dịch, mua điêu bán dối, phường đạo tặc giết người cướp của, hiếp dâm liên miên, càng ngày càng dã man hơn.

Bởi thế việc quân Tề tung hoành ngoài xâm lược biển nước Vệ, chả ai mà nhớ đến.

Người chiến sĩ ăn chơi sa đọa, không gìn giữ sức mình, trữ lưỡng, luyện võ. Khi giặc đến sân nhà, mới khám bệnh, bốc thuốc có phải là muộn rồi không.? Chi bằng dốc sức bắt hết những kẻ tham nhũng, là thượng thư, đại thần lấy hết tài sản của chúng tham nhũng chất chứa đầy nhà mà mua sắm vũ khí. Liều trận với quân thù, nếu có dứt số trời thì còn được tiếng thơm mãi sau này, được hậu thế xá tội cho những sai lầm trước đó.

Còn chấn chỉnh để kéo dài thêm vận khí của mình. Để giang sơn, lãnh thổ rơi vào tay giặc đó cũng chỉ là mưu lợi cho mình. Đất trời nào dung mà không làm mưa gió.?

Thứ Hai, 20 tháng 8, 2012

Đại Vệ Chí Dị 49

Nước Vệ triều nhà Sản năm thứ 67.

Nhà Sản sa sút uy tín trong nhân dân. Vệ Kính Vương bèn làm cuộc phê bình và tự phê bình để chấn chỉnh tư  cách, đạo đức quan lại trong triều. Mở đầu Vương nói thẳng vì uy tín nhà Sản giảm sút mới cần phải chỉnh đốn quan lai như vậy.

Cuộc chỉnh đốn tư cách quan lại chưa xong, uy tín nhà Sản chưa thấy tăng thì giá cả ngoài chợ đã tăng vọt. Mọi thứ chất đốt, lương thực, thực phẩm đều tăng lên vèo vèo.

Tháng bảy mưa to, ngày đầu tháng mưa một ngày khiến hơn hai mươi người bị chết. Con đường rộng lớn phía Tây kinh thành bỗng nhiên bị lở cắt ngang như vết chém. Châu Diễn lại sập hầm lò chết mấy người làm công. Dường như đất khắp nơi đều quằn quại chuyển mình dãy giụa.

Trước đó thân mẫu của một người tù vì tội làm phản bỗng nhiên tự thiêu. Lửa bốc ám khói đen cả góc trời. Không biết trời có phải vì thế mà làm mưa không.?

Bấy giờ mọi thứ trong nước đã tăng giá, các nguồn lệ phí cũng đã tận thu, tài nguyên mỏ không còn, rừng xanh kiệt, biển bị quân Tề thôn tính. Đời sống nhân dân khó khăn vô cùng. Quân lính trong triều lại nhiều như cỏ trên thảo nguyên, tướng tá nhung nhúc như rươi. Khiến ngân khố phải oằn mình chi trả lương bổng.

Quan nhà Sản nói với tể tướng : 

- Giờ ngân khố cạn kiệt, xin ngài bổ sung cho.

Tể tướng có nhiều bộ hạ thao lược tài xoay sở, ngài nghe xong quay ra hỏi bộ hạ rằng :
- Còn cái gì chưa tăng giá, còn cái gì chưa thu, cái gì chưa khai thác không.?

Bộ hạ thưa :
- Dạ, hết rồi ạ. Giờ chỉ còn sự bất mãn của dân là nhiều thôi.

Quan tuyên huấn thấy tể tướng lườm mình. Biết có ý trách không dẹp được dư luận, bèn đứng ra tâu :
- Còn bất mãn thì đánh thuế bất mãn.

Các quan lại lao xao, bất mãn thì người ta nói, ai mà đánh thuế được người ca thán cơ chứ. Người khác tỉnh táo hơn thì nói :


- Đừng vội suy đoán, nhà Sản ta có cái gì mà không làm được cơ chứ. Để quan tuyên huấn nói hết xem sao đã.

Quan tuyên huấn e hèm hắng giọng bước ra giữa triều nói :

- Thần trộm nghĩ, giờ nên xử phạt bọn bất mãn, một công đôi việc, vừa cho chúng nó chừa thói ấy, không phải bắt giam vào ngục mang tiếng triều đình, lại tốn người canh giữ, nuôi nấng. Chi bằng cứ phạt bọn ấy là có ngân sách lại là răn đe. Đứa nào không nộp phạt thì đến nhà nó cưỡng chế, nồi niêu, bát đũa có gì thu lấy.

Triều đình nghe mới ngộ ra, ai nấy cũng hỉ hả khen quan tuyên huấn tài. Khiến quan tài chính cũng phải chắp tay bái phục vì chuyên môn khác người của quan tuyên huấn.

Họ Nguyễn người trấn Đoài bị phạt hơn 7 triệu quan tiền. Bên miền trong gia đình nhà họ Huỳnh xứ Chiêm Thành cũ phạt cả nhà còn nhiều hơn gấp bội. Triều đình vừa xử phạt vừa gấp rút soạn lệ phạt lên thành bộ luật.

Dân tình ngoài chợ xôn xao :
- Xưa vẫn có câu '' đéo ai đánh thuế được thằng nói phét '' xem ra bây giờ không đúng ở thời này nữa rồi.

Người khác cãi :
- Người xưa nói không thể sai, khối kẻ nói phét xui dân mua chứng khoán, mua nhà khiến bao người táng gia bại sản. Có kẻ nói không tăng giá mặt hàng này, hôm sau giá tăng luôn đấy có sao.?


Người trung dung tổng kết :
- Đó là nói phét có môn bài, hoặc như câu '' miệng nhà quan có gang có thép' ''

Thứ Năm, 26 tháng 7, 2012

Đại Vệ Chí Dị 48

Nước Vệ triều nhà Sản năm thứ 67.

Vỡ nợ khắp nơi, thất nghiệp khắp nơi, kiện cáo khắp nơi, tham nhũng cũng nơi nơi và tăng giá cũng nơi nơi.

Mùa hè năm ấy, ngoài biển quân Tề triển khai tàu thuyền. Nỗ lực xây dựng nhà cửa, kho tàng, chiến lũy kiên cố trên đảo Lam Phu của Vệ. Khi việc xây cất đã xong, lựa ngày tốt bố cáo cho thiên hạ việc mở vùng đất mới, đặt tên là Sa Ta.

Việc động trời ấy, cố nhiên khiến nước Vệ xôn xao. Nhà Sản vô cùng khó xử, nước Tề bên ngoài là láng giềng, nhưng bên trong là tình huynh đệ. Bên Tề cũng do nhà Sản cai trị, anh em với nhau đã mấy mươi năm. Sau khi nhà Sản ở xứ Xa La Tư bị phế truất, Sản Vệ bơ vơ không nơi nương tựa. Triều thần kéo nhau sang Tề khóc thảm thiết mấy ngày trước điện, dâng thơ tha thiết nói rằng:
- Người xưa có câu “quyền huynh thế phụ” cha chết mọi việc do anh quyết. Nay phụ thân ở xứ Xa La Tư lạnh giá, không may đã chẳng còn. Anh em khác còn ở xa và thơ dại, duy chỉ có Tề là anh lớn nhất lại gần kề bên. Xin xá tội cho đứa em nhỏ dại mà nhận về đùm bọc, chỉ bảo, dạy dỗ đừng để bơ vơ thế lực bên ngoài lôi kéo làm tha hóa. Xấu mặt cả họ nhà Sản nói chung.

Tề nghe thấy bèn ra một số điều kiện. Vệ bấy giờ như chết đuối vớ phải cọc, cái gì cũng ừ, miễn sao có chỗ bám chắc chắn. Nhà Sản từ đó mới yên, mưa thuận, gió hòa chỉ việc đào tài nguyên, khoanh đất mà bán lấy tiền. Triều đình quan lại ung dung hưởng lộc, nhàn nhã, phú quý xênh xang. Tậu biệt thự ngoài biển, xây lâu đài trên núi, cuộc sống quan lại nhà Sản nước Vệ thịnh vượng, xa hoa hết chỗ nói.

Giờ nhà Tề chính thức tuyên bố lấy Lam Phu đặt thành quận huyện của Tề. Triều thần nhà Sản nước Vệ rụng rời, bối rối không biết xử lý ra sao. Một mặt chạy sang kêu nài Tề hay thư thả để vài năm nữa nói chuyện. Nhưng thế sự rối bời, mai này chưa biết về đâu, Tề nhất quyết lấy ngay bằng được.

Nhà Sản nước Vệ họp bàn kế sách về việc Lam Phu. Chả ai đưa ra được ý kiến, lúc cả triều đang vò đầu bứt tai thì có quan tuyên huấn đứng ra nói:
- Trong cái họa có cái phúc, nước Vệ gặp việc này càng may cho nhà Sản.

Triều đình mới hỏi phúc họa thế nào. Quan tuyên huấn nói:
- Việc Lam Phu mà Tề gây ra sẽ khiến dân tình bức xúc, trong sự bức xúc đó sẽ lộ ra nhiều đứa ai oán triều đình, phản đối quan hệ Tề-Vệ. Nay ta nhân cơ hội này mà làm cuộc thanh trừng, tảo phạt bọn phản nghịch ấy. Triệt hết mầm mống thì có phải nhà Sản ta lại kê cao đầu mà ngủ không?

Có quan hỏi:
- Thế còn chuyện Lam Phu nói với dân thế nào?

Quan tuyên huấn nói:
- Nói với dân thế nào chả được, nói rằng mọi việc đã có triều đình, làm dân phải yên ổn làm ăn, không được bàn tán thế sự để bọn xấu lợi dụng.

Một quan khác hỏi:
- Thế dân không nghe thì sao?

Quan tuyên huấn:
- Không nghe rõ là có ý nghịch, loại ấy là mầm mống, trước sau cũng nghịch. Chẳng phải đây là cơ hội ta phát hiện chúng sao, thế mới gọi là trong cái họa có cái phúc.

Lập tức hôm sau, nhà Sản cho người đi lu loa khắp phố phường những kẻ phản đối Tề xâm lược Lam Phu chỉ là mưu đồ nhằm lật đổ triều đình nhà Sản, những kẻ này sẽ bị trừng trị thích đáng. Đối với việc Lam Phu nhà Sản đang có đối sách, nhân dân tuyệt đối bình tĩnh làm ăn. Không nghe theo kẻ khác làm loạn.

Sau này Lam Phu bị mất về tay Tề, nhưng nhà Sản nước Vệ vững như bàn thạch, tọa cùng tuế nguyệt, xây thêm nhiều nhà thờ tiên đế khắp nơi để dân chúng cảm tạ.

Thứ Hai, 11 tháng 6, 2012

Đại Vệ Chí Dị 47

Nước Vệ triều nhà Sản năm thứ 67.
Dân oan bị cướp đất kéo nhau đi kiện khắp nơi.
Kinh tế suy thoái, nợ nước ngoài chồng chất.
Quân Tề nhân cơ ấy, tung hoành ngoài lãnh hải, ngư thuyền đi đánh bắt hải sản dàn hàng ngang trên biển Vệ. Khiến cho ngư dân Vệ khiếp đảm không dám ra khơi hành nghề. Vì thế mà nước Vệ yên ổn, tránh được chuyện binh đao với Tề. Quả thật một điều nhịn chín điều lành như cha ông dạy. Triều Vệ nghị sự, các quan bàn rằng, chúng nó (ý nói bọn Tề) đánh hết hải sản, thu hết tài nguyên tức khắc phải kéo về. Cứ án binh bất động là kế hay nhất.
Trong nước người dân bất mãn, ca thán, tiếng vang động đến trời cao. Triều Vệ nghị, sự, các quan bàn rằng. Cứ cấm chúng nó than vãn, thì gần cũng chả nghe thấy, huống chi là trời cao vời vợi kia.
Bèn lựa lúc mùa hạ oi bức khiến bá tính khó chịu vô cùng, mới sai bọn truyền thông thanh tra những người hay phổ biến tin tức trong nhân dân để khép tội.
Lúc ấy ở kinh thành có tiến sĩ họ Nguyễn, Nguyễn nguyên người xứ Đoài, năm 38 tuổi đậu tiến sĩ khóa Mậu Tí đời Vệ Cường Vương, làm quan thủ thư tại viện Cổ Ngữ. Tay ấy rành kinh sử, hay chọn lọc được những tin tức quý giá trong dân phổ biến cho mọi người xem. Ước thiên hạ người đọc tin của tiến sĩ có đến hàng triệu.
Đại thần nghị chính kiêm phó tể tướng là Phước được triều đình tín nhiệm, giao cho xử việc trấn áp Nguyễn. Phước cầm lệnh bài triệu tập các bộ liên quan là bộ Lễ, bộ Hình lại, cắt đặt việc đâu ra đấy. Trước là dùng pháp lệnh để nắn Nguyễn tìm chứng cứ cho bộ Hình vào cuộc, tiếp nữa là dùng bọn bồi bút công kích hạ thấp uy tín của Nguyễn. Đồng thời lệnh cho những kẻ đặc tình cài trong hàng ngũ nhân dân hưởng ứng cuộc hạ uy tín này tạo thành hai mũi giáp công. Dọn đường khi trấn áp được Nguyễn, hạ được uy tín, reo rắc tiếng xấu cho những người đưa tin trong bốn cõi là đưa pháp lệnh xiết chặt việc truyền tin trong dân gian vào thi hành.
Nào ngờ mưu ấy bị lọt ra ngoài, làm mất đi cái chính danh của pháp lệnh. Khắp nơi đường chợ người ta đều hiểu đó là mưu để bịt miệng nhân dân, không để tiếng than vãn lọt đến trời xanh. Dân vì thế mà không phục.
Nhà Sản thấy khó, bèn xoay chuyển sang hướng khác. Đưa tin bọn ca kỹ, diễn viên bán dâm hàng chục lượng vàng tràn ngập khắp bảng tin trong nước. Dân trí Vệ còn thấp, nghe được tin lạ xúm xít vào bàn tán, làm thế cho loạn tin. Một cách làm bấy lâu nay vẫn thành công. Trước gây loạn có cớ dẹp, trong lúc dẹp thì mượn gió bẻ măng.
Bọn lưu manh kẻ chợ ngồi mách chuyện với nhau. Xưa nay chúng ta bảo kê chỗ nào như nhà hàng, quán chợ, bến bãi, trước tiên cho người vào hàng quán quậy phá, gây loạn cho lòng người hoảng sợ. Sau đó đứng ra bảo kê thu tiền với cớ là giữ gìn trật tự. Nay triều đình dùng kế đem mỹ nhân bán dâm gây loạn thiên hạ, sau đó chấn chỉnh việc truyền tin trong nhân dân. Liệu có giống nhau không nhỉ?
Có người nói:
- Giống phần nào thôi, chúng ta là lưu manh, côn đồ, chúng ta dùng vũ lực. Dù sao đi nữa chúng ta cũng là người ngay thật. Chứ dùng váy của đàn bà mà để làm chuyện đó thì xưa nay trong giới chúng ta không ai làm việc đó cả.
Dân kẻ chợ, nghe bọn đó nói chuyện, ai cũng ngao ngán nói với nhau.
- Đúng là thời của âm binh.

Thứ Bảy, 19 tháng 5, 2012

Cả nước đã bị lừa

Đã hơn 3 thập kỷ trôi qua, làm ăn cực nhọc là thế, thành tựu không thể nói là nhỏ, thế mà khoảng cách phát triển của VN so với thế giới sao vẫn xa vời! Không định thần nhìn nhận lại tất cả, không khéo chúng ta sẽ ngày càng đi sâu vào con đường đi làm thuê, đất nước có nguy cơ trở thành đất nước cho thuê với triển vọng là bãi thải công nghiệp của các quốc gia khác! Giữa lúc thế giới đang bước vào thời kỳ kinh tế trí thức!


150 năm đã trôi qua, nhưng bài học này còn nguyên vẹn. Đó là 80 năm nô lệ, 40 năm với 4 cuộc chiến tranh lớn (Pháp, Mỹ, Cam Bốt, Tàu) – trong đó 3 thế hệ liên tiếp gánh chịu những hy sinh khốc liệt, 35 năm xây dựng trong hòa bình với biết bao nhiêu lận đận, và hôm nay VN vẫn còn là một nước chậm tiến.

Thảm kịch của đảng cộng sản thực ra đã bắt đầu ngay từ ngày 30-4-1975. Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát, về mọi mặt. “Tính hơn hẳn” của chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc.


Nhìn lại sau hơn nữa thế kỷ dưới chế độ CS, hàng loạt các câu hỏi được đặt ra :

_ Năm 1954 sau khi thắng Pháp, tại sao hơn 1 triệu người Bắc phải bỏ lại nhà cửa ruộng vườn di cư vào miền Nam ?
_ Sau năm 1975 , tại sao dân miền Nam không ồ ạt di cư ra Bắc sinh sống để được hưởng những thành quả của CNXH mà chỉ thấy hàng triệu người Bắc lũ lượt kéo nhau vào Nam lập nghiệp ?
_ Tại sao sau khi được “giải phóng” khỏi gông cùm của Mỹ-Ngụy, hàng triệu người phải vượt biên tìm tự do trong cái chết gần kề, ngoài biển cả mênh mông ?
_ Tại sao nhân viên trong các phái đoàn CS đi công tác thường hay trốn lại ở các nước tư bản dưới hình thức tị nạn chính trị ?


Tất cả những thành phần nêu trên, họ muốn trốn chạy cái gì?

_ Tại sao đàn ông của các nước tư bản Châu Á có thể đến VN để chọn vợ như người ta đi mua một món hàng?
_ Tại sao Liên Xô và các nước Đông Âu bị sụp đổ?
_ Tại sao lại có sự cách biệt một trời một vực giữa Đông Đức và Tây Đức, giữa Nam Hàn và Bắc Hàn?
_ Tại sao nước ta ngày nay phải quay trở lại với kinh tế thị trường, phải đi làm công cho các nước tư bản?
_ Tại sao các lãnh tụ CS lại gởi con đi du học tại các nước tư bản thù nghịch?


Hỏi tức là trả lời, người VN đã bỏ phiếu bằng chân từ bỏ một xã hội phi nhân tính . Mọi lý luận phản biện và tuyên truyền của nhà nước cộng sản đều trở thành vô nghĩa.


Sự thực đã quá hiển nhiên nhưng đảng cộng sản không thể công khai nhìn nhận. Họ không thể nhìn nhận là đã hy sinh bốn triệu sinh mệnh trong một cuộc chiến cho một sai lầm. Nếu thế thì họ không còn tư cách gì để nắm chính quyền, ngay cả để hiện diện trong sinh hoạt quốc gia một cách bình thường.


Nhìn nhận một sai lầm kinh khủng như vậy đòi hỏi một lòng yêu nước, một tinh thần trách nhiệm và một sự lương thiện ở mức độ quá cao đối với những người lãnh đạo cộng sản. Hơn nữa họ đã được đào tạo để chỉ biết có bài bản cộng sản, bỏ chủ nghĩa này họ chỉ là những con số không về kiến thức. Cũng phải nói là trong bản chất con người ít ai chịu từ bỏ quyền lực khi đã nắm được.


Thế là sau cuộc cách mạng long trời lở đất với hơn ba chục năm khói lửa, máu chảy thành sông, xương cao hơn núi, Cộng sản Hà Nội lại phải đi theo những gì trước đây họ từng hô hào phá bỏ tiêu diệt. Từ ba dòng thác cách mạng chuyên chính vô sản, hy sinh hơn bốn triệu mạng người, đi lòng dòng gần nửa thế kỷ, Cộng sản Hà Nội lại phải rập khuôn theo mô hình tư bản để tồn tại .


Hiện tượng “Mửa ra rồi nuốt lại” này là một cái tát vào mặt các nhà tuyên giáo trung ương.


Cách mạng cộng sản đã đưa ra những lí tưởng tuyệt vời nhất, cao cả nhất, đã thực hiện những hành động anh hùng vô song, đồng thời cũng gieo vào lòng người những ảo tưởng bền vững nhất.


Nhưng thực tế chuyên chính vô sản đã diễn ra vô cùng bạo liệt, tàn khốc, chà đạp man rợ lên đạo lý, văn hóa và quyền con người ở tất cả các nước cộng sản nắm chính quyền. Sự dã man quỷ quyệt mánh lới và sự bất nhân khéo che đậy của cộng sản chưa hề thấy trong lịch sử loài người.


Con người có thể sống trong nghèo nàn, thiếu thốn. Nhưng người ta không thể sống mà không nghĩ, không nói lên ý nghĩ của mình. Không có gì đau khổ hơn là buộc phải im lăng, không có sự đàn áp nào dã man hơn việc bắt người ta phải từ bỏ các tư tưởng của mình và “nhai lại” suy nghĩ của kẻ khác.


Nền chuyên chính vô sản này làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của một dân tộc, làm tê liệt sự hoạt động tinh thần của nhiều thế hệ, làm nhiều thế hệ con người trở thành những con rối, những kẻ mù chỉ biết nhai như vẹt các nguyên lý bảo thủ giáo điều…


Công dân của nhà nước cộng sản luôn luôn sợ hãi, luôn luôn lo lắng không biết mình có làm gì sai để khỏi phải chứng minh rằng mình không phải là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội.


Cơ chế quyền lực cộng sản tạo ra những hình thức đàn áp tinh vi nhất và bóc lột dã man nhất. Vì vậy công dân trong các hệ thống cộng sản hiểu ngay điều gì được phép làm, còn điều gì thì không. Không phải là luật pháp mà là quan hệ bất thành văn giữa chính quyền và thần dân của nó đã trở thành “phương hướng hành động” chung cho tất cả mọi người.


Cơ chế hiện nay đang tạo kẽ hở cho tham nhũng, vơ vét tiền của của Nhà nước. Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là mất tiền, mất của, dù số tiền đó là hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ. Cái lớn nhất bị mất, đó là suy đồi đạo đức. Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống…


Bác và đảng đã gần hoàn thành việc vô sản hóa và lưu manh hóa con người VN (vô sản lưu manh là lời của Lê Nin). Vô sản chuyên chính (đảng viên) thì chuyển sang làm tư bản đỏ, còn vô sản bình thường (người dân) trở thành lưu manh do thất nghiệp, nghèo đói.

Nền kinh tế Việt Nam bây giờ chủ yếu là dựa trên việc vơ vét tài nguyên quốc gia, bán rẻ sức lao động của công nhân và nông dân cho các tập đoàn kinh tế ngoại bang, vay nước ngoài do nhà nước cộng sản làm trung gian .


Huyền thoại giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp do cộng sản Việt Nam dày công dàn dựng đã tan thành mây khói khi giai cấp “vô sản” âm thầm lột xác trở thành các nhà tư bản đỏ đầy quyền lực và đô la.
 

Do vậy, lý thuyết cộng sản dần dần mất đi tính quyến rủ hoang dại. Nó trở nên trần trụi và lai căng. Tất cả điều đó đã làm cho các ĐCS trên toàn thế giới dần dần chết đi. Dù GDP có tăng lên, nhiều công trình lớn được khánh thành do vay mượn quỹ tiền tệ Quốc Tế nhưng đạo đức xã hội cạn dần. Thực tế cho thấy rằng sức mạnh không nằm ở cơ bắp. Vũ khí, cảnh sát và hơi cay chỉ là muỗi mòng giữa bầu trời rộng lớn nếu như lòng dân đã hết niềm tin vào chính quyền.


Học thuyết về xây dựng một xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa chỉ là một loại lý tưởng hóa, nó là chiếc bánh vẽ để lừa gạt dân, không hơn không kém; đảng nói một đằng, làm một nẻo.


Chẳng hạn đảng nói “xây dựng xã hội không có bóc lột” thì chính những đảng viên lại là những người trực tiếp tham nhũng bóc lột người ; đảng nói ” một xã hội có nền dân chủ gấp triệu lần xã hội tư bản” thì chính xã hội ta đang mất dân chủ trầm trọng; đảng nói “đảng bao gồm những người tiên phong nhất, tiên tiến nhất” nhưng thực tế thì đảng đầy rẫy những người xấu xa nhất, đó là những kẻ đục khoét tiền bạc của nhân dân.


Sở dĩ ĐCSVN còn cố giương cao ngọn cờ XHCN đã bị thiêu rụi ở tất cả các nước sản sinh ra nó vì chúng đang còn nhờ vào miếng võ độc “vô sản chuyên chính” là… còng số 8, nhà tù và họng súng để tồn tại !

Nhân dân đang hy vọng rằng Đảng sớm tự ý thức về tội lỗi tầy trời của mình . Đảng sẻ phải thẳng thắn sám hối từ trong sâu thẳm chứ không chỉ thay đổi bề ngoài rồi lại tiếp tục ngụy biện, chấp vá một cách trơ trẽn.


Người dân chẳng còn một tí ti lòng tin vào bất cứ trò ma giáo nào mà chính phủ bé, chính phủ lớn, chính phủ gần, chính phủ xa đưa ra nữa. Họ nhìn vào ngôi nhà to tướng của ông chủ tịch xã, chú công an khu vực, bà thẩm phán, ông chánh án, bác hải quan, chị quản lý thị trường, kể cả các vị “đại biểu của dân” ở các cơ quan lập pháp “vừa đá bóng vừa thổi còi” mà kết luận: “Tất cả đều là lừa bịp!”


Do đó XHCN sẽ được đánh giá như một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử VN. Con, cháu, chút, chít chúng ta nhắc lại nó như một thời kỳ … đồ đểu ! vết nhơ muôn đời của nhân loại.


Một thời kỳ mà tâm trạng của người dân được thi sĩ cách mạng Bùi Minh Quốc tóm tắt qua 2 vần thơ :
“Quay mặt phía nào cũng phải ghìm cơn mửa!
Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!”

Chẳng lẽ tuổi thanh xuân của bao người con nước Việt dâng hiến cho cách mạng để cuối cùng phải chấp nhận một kết quả thảm thương như thế hay sao?


Chẳng lẽ máu của bao nhiêu người đổ xuống, vàng bạc tài sản của bao nhiêu kẻ hảo tâm đóng góp để cuối cùng tạo dựng nên một chính thể đê tiện và phi nhân như vậy?


Tương lai nào sẽ dành cho dân tộc và đất nước Việt Nam nếu cái tốt phải nhường chổ cho cái xấu?


Một xã hội mà cái xấu, cái ác nghênh ngang, công khai dương dương tự đắc trong khi cái tốt, cái thiện phải lẩn tránh, phải rút vào bóng tối thì dân tộc đó không thể có tương lai!


Một kết cục đau buồn và đổ vỡ là điều không tránh khỏi.


Châu Hiển Lý – Bộ đội tập kết 1954




Quốc hội Âu Châu lên án chủ nghĩa cộng sản là tội ác chống nhân loại

Ngày 25.01.2006, tại Strasbourg, Pháp, Quốc hội Âu Châu, với đa số áp đảo, 99 phiếu thuận, 42 phiếu chống, đã đưa ra nghị quyết số 1481, lên án chủ nghĩa cộng sản là tội ác chống nhân loại, và các chế độ toàn trị cộng sản đã vi phạm nhân quyền tập thể.


 

Nguyễn Văn Thiệu (tổng thống Đệ nhị Cộng hòa, nhiệm kỳ 1967-1975 - mất năm 2001):
Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn những gì cộng sản làm.



Martin Luther King (mục sư Tin Lành, mất năm 1968)
Điều làm cho kinh hãi  không phải là sự đàn áp của kẻ ác, mà là sự thờ ơ của kẻ thiện.


Mikhail Gorbachev (tổng bí thư cuối cùng của đảng cs Liên Xô, nhiệm kỳ 1985-1991):
Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản. Ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng: Đảng cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá.


Boris Yeltsin (tổng thống đầu tiên của Liên bang Nga, nhiệm kỳ 1991-1999 - mất năm 2007):
Cộng sản không thể nào sửa chữa, mà cần phải đào thải nó.


Vladimir Putin (tổng thống Nga, nhiệm kỳ 2000-2008):
Kẻ nào tin những gì cộng sản nói là không có cái đầu. Kẻ nào làm theo lời của cộng sản là không có trái tim.


Milovan Djilas (Bí thư đảng CS Nam Tư - mất năm 1995)
20 tuổi mà không theo cộng sản là không có trái tim, 40 tuổi mà không từ bỏ cộng sản là không có cái đầu.


Dalai Lama (lãnh tụ tinh thần Phật giáo Tây Tạng):
Cộng sản là loài cỏ dại mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng độc sinh sôi nẩy nở trên rác rưởi của cuộc đời.


Angela Merkel (thủ tướng Đức, đương nhiệm từ 2005)
Cộng sản đã làm cho người dân trở thành gian dối. Dưới chế độ cộng sản chỉ tạo nên những con người dối trá.


















Thứ Ba, 15 tháng 5, 2012

Giá trị của đồng tiền lẻ

Mỗi lần đi chợ về tôi lại có thói quen gom hết tiền lẻ bỏ vào ngăn kéo nơi bàn làm việc của mình. Tôi không có chỗ nào khác để cất những đồng tiền lẻ ấy mà để vào ngăn kéo để có thể nhìn ngắm chúng vì đó là thói quen mà khi ba tôi còn sống ông ấy thường làm. Tôi thấy và bắt chước ông tự lúc nào không hay nhưng cho mãi tới ngày hôm nay tôi vẫn tự tin rằng thói quen nhìn những đồng tiền lẻ giúp tôi bình thản rất nhiều trong cái tranh đua thường nhật với đời sống kinh tế cùng những chật chội oi bức về xã hội của thành phố.

Bắt đầu là những tờ bạc 200 đồng. Tôi tin rằng đây là tờ bạc khiêm nhượng nhất còn lưu hành ngoài chợ tuy ngày càng hiếm đi. 200 là đơn vị tính không hề nhỏ, nhưng khi con số đó nằm trên tờ giấy được gọi là tiền đồng Việt Nam thì nó trở nên lẻ loi đến thảm hại. Không một món hàng nào ngoài chợ có cái giá 200 đồng bạc. Nó chỉ dành để thối lại mà phải nhiều tờ nhập lại mới đủ làm cái công việc thối cho khách hàng. 5 tờ thì thành 1.000 và 10 tờ thì thành 2.000…Cứ thế, những tờ bạc 200 đồng chỉ sống sót khi được nằm chung với nhau, chúng ký sinh lẫn nhau và sống đời sống tầm gửi chờ ngày biến mất.

Mỗi lần nhìn những tờ bạc nhỏ nhoi ấy tôi lại thấy thấm thía thân phận của chính mình. Ba tôi thường nói tờ bạc lẻ nói lên cả một quá trình của một chế độ với biến thiên lịch sử lẫn kinh tế xã hội của nó. Trị giá đồng tiền lẻ càng lớn thì đời sống của xã hội càng vững vàng vì nền kinh tế tận dụng từng chút giá trị của đồng bạc lẻ nói lên sự ổn định của xã hội và đôi khi cả chính trị nữa.

Sau hai đợt đổi tiền với ý đồ ngây thơ là nâng giá trị của đồng tiền lên nên ban đầu những tờ bạc mệnh giá từ 200 lên tới 2.000 tự nhiên được nâng cao giá trị. Thế nhưng giá trị thật của tờ bạc không nằm ở con số mà ở tình trạng GDP của quốc gia. Việt Nam có lẽ là một trong những nước có những đồng bạc lẻ vô giá trị trên bàn làm việc của ngân hàng tuy chúng vẫn được những chị hàng rong vui vẻ chấp nhận. Thân phận của những đồng tiền lẻ ấy vẫn còn một chút an ủi vì ít ra chúng còn được những bàn tay kham khổ của giai cấp thấp nhất xã hội vuốt ve mỗi buổi tối khi trở về từ mọi hóc hẻm của thành phố.

Người ta không chú ý đến những đồng tiền lẻ nhưng nếu được tống khứ nó đi bằng một nắm tiền để đổi lấy một tờ vé số chẳng hạn thì lại cảm thấy hân hoan hạnh phúc. Tâm lý vứt bỏ một vật kém giá trị bằng cách đổi lấy một vật có giá trị ngang với một tờ giấy lộn làm cho không ít người sung sướng. Tâm lý thắng lợi tinh thần này không những gắn liền với cách ứng xử của nhiều người mà nó còn thể hiện trong không ít chính sách hiện nay mà xã hội đang kêu rêu chống đối.

Chính sách xuất khẩu lao động có thể là một ví dụ tốt cho hình thái này. Người nghèo khó và không còn cơ hội nào nữa mới chấp nhận làm thân phận đi làm thuê ở nước ngoài. Họ như những đồng tiền lẻ mà giá trị được các công ty kinh doanh đem ra trao đổi để thu về những gói lợi nhuận nhưng không hề để ý đến quyền lợi của người làm thuê. Bao nhiêu cũng tốt và bao nhiêu cũng bán. Các công ty xuất khẩu lao động không hề bị theo dõi xem việc làm của họ có phù hợp với lợi ích của người lao động hay không bởi chính sách tận bán không cần hậu mãi của nhà nước đã và đang khuyến khích cho không ít kẻ trục lợi trên những con người nghèo khổ này.

Chính sách này cho thấy tư duy của nhà nước luôn nghĩ rằng những con người không nghề nghiệp kia được làm việc, được hưởng lương là một điều may mắn và vì vậy cho dù quyền lợi của họ có bị xem thường một chút thì cũng không đáng quan tâm. Họ giống như những đồng tiền lẻ được mang đi đổi lấy một lợi nhuận nào đó và điều này được xem là thắng lợi, thắng lợi tinh thần.

Ngược lại với những đồng tiền lẻ là những loại tiền mệnh giá tối đa. 500 ngàn là tờ bạc của người giàu hay ít ra cũng là niềm mơ ước của người nghèo. Báo chí hồ hởi viết những bài phóng sự ca tụng mức độ ăn chơi trác táng của những kẻ mới giàu làm cho người nghèo vừa nhục lại vừa đau. Họ ngồi đếm những đồng tiền lẻ và ngạc nhiên tự hỏi tại sao mình có thể sống sót qua bao nhiêu năm trời dưới cái nghèo đói triền miên như vậy?

Trong khi đó những khuôn mặt được gọi là đại gia với những thước tiền không đếm xuể không hề có một chút ấn tượng nào về loại tiền khó đếm chỉ dành cho người nghèo này. Họ chỉ có ấn tượng với những chiếc xe ngoại quốc sang trọng cực kỳ. Họ ấn tượng với những thứ sản phẩm kỳ cục được thổi lên và tán tụng lẫn nhau trong cùng giới. Những cây cảnh tầm thường được chăm chút rồi thổi phồng qua phương tiện báo chí để giá cả trở thành hàng trăm tỷ chỉ có thể lừa gạt trong giới của họ. Họ phù phiếm ngồi trong những phòng lạnh sang trọng nói về thế giới chung quanh với tâm thức và tư duy của những kẻ trọc phú. Giọng điệu của họ dễ làm cho người có học tởm lợm nhưng lại được những người chuyên sài tiền lẻ ngưỡng phục. Sự ngưỡng phục không phải từ ý thức muốn làm giàu mà từ tâm lý trống rỗng của chiếc bao tử.

Nếu một lúc nào đó các đại gia tình cờ cầm tờ giấy bạc 200 đồng lên và thấm thía từng giọt mồ hôi vẫn còn phảng phất trên ấy thì có lẽ việc vung tiền của họ sẽ giảm bớt. Những tờ giấy bạc nhỏ nhoi ấy có thể như một trang kinh thánh bị rơi ra nhưng có khả năng nhắc nhở cho người ta rằng tiền có thể mua mọi thứ nhưng không thể mua được bình an trong tâm hồn.

Đừng tưởng là đại gia thì không có điều gì làm họ sợ hãi. Đồng tiền của họ chỉ có thể thu phục bọn giá áo túi cơm, sống bám vào hành vi bất chính và do đó khi một luồng sóng cách mạng tràn về thổi bay những rác rến ấy thì không ít đại gia sẽ lộ mặt với những tội lỗi không thể đếm hết mà trong đó tội móc nối với quyền lực để làm giàu trên những người sài bạc lẻ là một.

Người làm giàu bất chính lo sợ rất nhiều thứ nhưng điều họ sợ nhất là một ngày nào đó họ phải tiêu những đồng tiền lẻ mà bấy lâu nay họ không bao giờ để ý.

Cánh Cò (RFA)

Thứ Sáu, 30 tháng 3, 2012

Đại Vệ Chí Dị 46



Nước Vệ triều nhà Sản. Năm thứ 67, đời Vệ Kính Vương thứ hai.

Nứt đập chắn nước ở nam trung bộ, tính mạng hàng trăm ngàn bá tính bị đe dọa.

Dân oan bốn phương kéo về kinh đô đánh trống kêu oan ngày một đông.

Ngoài biên cương nước Tề kéo thủy quân nhòm ngó lãnh hải, bắt đi cơ man nào là ngư dân đòi tiền chuộc.

Ngân khố cạn kiệt, giá cả vẫn leo thang chóng mặt.

Nhà nhà phá sản, khánh kiệt.

Kẻ có bạc vẫn hoang phí, xa hoa,quan chức thì xây cung điện, dinh cơ tráng lệ. Phường trọc phú tậu xe tứ mã nhập ngoại, tổ chức hôn lễ đình đám tốn hàng ngàn lượng vàng.

Bấy giờ nhà Sản thấy ngân khố trống rỗng, lo lắng họp triều định nghị sự, đại thần nghị chính Tôn Dưa mở đầu nói rằng.

- Nay thiên hạ rối ren, đập nứt, vỡ nợ, nông dân thì kiện triều đình mất đất, ngư dân thì bị Tề bắt giam đòi chuộc, giá cả lạm phát hàng ngày… nhưng thứ đó đều quan trọng. Nhưng cái quan trọng nhất cần bàn phải là ngân khố triều đình. Đập vỡ chết dân thì dân lại sinh đẻ. Nông dân, ngư dân không có ruộng, biển hành nghề tức khắc đói đầu gói phải bò kiếm nghề khác. Giá cả cao thì không ăn thịt nữa chọn rau, củ mà ăn… chưa hẳn là cấp bách. Ngân khố là sức mạnh đoàn kết của triều đình, không có ngân khố không duy trì được ba quân. Không giữ được ba quân thì không giữ nổi triều đình. Nước Vệ ta từ khi thành lập đến nay dân tình trải qua bao lần đào sắn, khoai trừ bữa nhưng chưa bao giờ sinh biến, ấy bởi vì ngân khố cho ba quân còn mạnh. Ba quân mạnh thì dẫu biến thế nào cũng trị được. Bởi vậy lần này nghị triều, việc khẩn cấp là tìm nguồn tài lực cho ngân khố.

Vệ Kính Vương trầm tư gật đầu, xưa Dưa với Vệ Kính Vương cùng trường, người khóa trước kẻ khóa sau. Nên nói là hợp ý. Vệ Kinh Vương trăn trở luận rằng.

- Biết là vậy, nhưng tài nguyên đã bán hết từ lâu, ruộng đồng của dân thu hồi về bán cũng gần hết. Vay nợ bên ngoài khắp nơi giờ cũng hết chỗ mà vay. Biết chỗ nào trông cậy.

Bạo e hèm một tiếng, triều thần đổ dồn ánh mắt về phía Bạo. Làm tể tướng nhiều năm, Bạo có tiếng là liêm khiết. Gia sản thanh bạch, nhà cửa mồ mả cha ông ở quê nhà vẫn đơn sơ, giản dị. Con cái, họ hàng không được nhờ cậy toàn phải tự lực cánh sinh. Lúc Bạo làm tể tướng tính yêu sự thật, ghét giả dối cho nên không có bè cánh gì cả, chỉ dựa vào tài năng, đức độ của mình mà điều hành việc nước. Không những dân chúng trong nước yêu mến, mà ngay cả người nước ngoài đều đánh giá Bạo tài năng lỗi lạc, xuất chúng. Bởi vậy Bạo hắng giọng là được sự chú ý của cả triều đình.

Bạo đưa cằm lên cao, ngước mắt nhìn xung quanh, mắt nheo nheo, miệng cười khẩy nói:

- Triều nhà Sản ta xưa nay lắm lý luận, chả lẽ không có kế gì sao?

Một phần ba đại thần nghị chính là nho sĩ, triết gia, lý luận hàng đầu của nước Vệ. Nghe Bạo hỏi ai cũng tảng lờ. Việc tiền bạc và chữ nghĩa xưa nay không mấy khi chung đường. Bạo đợi mãi không thấy ai trả lời, mới hỏi:

- Thế nào là phát huy nội lực?

Vẫn không ai trả lời, Bạo quay lại đằng sau gọi quân bản bộ của mình là tùy tướng Đương Leo Thang:

- Này Thang, ngươi có trả lời được câu này cho triều đình nghe không?

Đương Leo Thang tuổi trẻ, tài cao, chí lớn. Người trấn Sơn Nam Hạ. mắt phượng, mày ngài đi đứng ăn nói dõng dạc. Nghe chủ tướng gọi tên mình, Thang bước ra giữa triều tâu:

- Phát huy nội lực chính là lúc này đây, không lấy được tiền từ tài nguyên, đất đai, vay mượn thì lấy từ trong dân. Kế này gọi là hết nạc ta vạc đến xương. Dân ta bây lâu nay nhờ ơn nhà Sản mở mang luật pháp cho làm ăn, của nả cũng dư dả. Xe cộ nườm nượp đi tắc cả đường. Nay nhân cớ dẹp tắc đường mà thu phí. Đó chả phải là kế hay sao?

Bạo hỏi:

- Thế ngươi đã có chủ trương gì chưa?

Thang tâu:

- Thưa tể tướng, thần từ khi nhậm chức đã biết lo xa. Nên đã học Thương Ưởng.

Triều đình có tiếng thì thầm, học gì, Thưởng Ưởng là ai nhỉ?

Thang rành rẽ kể:

- Được vua Tần giao quyền trị nước, Thương Ưởng liền soạn thảo một chính sách Pháp trị cứng rắn để đem ra áp dụng. Bảy điều luật ông chuẩn bị ban hành đều rất hà khắc, trong đó điều thứ 7 là hà khắc nhất: trong 10 nhà nếu có một nhà phạm pháp mà không ai báo thì cả 10 nhà đều bị giết.

Vì chính quyền nước Tần lâu nay vẫn chuyên “nói một đường làm một nẻo”, giờ cần lấy lại lòng tin của dân chúng để thi hành 7 điều luật Pháp trị mới này thật khó. Thương Ưởng đã nghĩ ra một cách phương cách khá ngoạn mục và cũng khá hao tốn: Ông cho dựng nhiều cây gỗ nhẹ dài khoảng ba trượng ở cửa Nam thành kinh thành rồi thông báo: “Ai vác nổi một cây gỗ này từ đây sang cửa Bắc sẽ được thưởng 5 lượng vàng”.
Suốt ngày hôm đó không có ai vác.

Hôm sau ông lại cho thông báo: “Ai vác được một cây gỗ này sang cửa Bắc sẽ được thưởng 10 lượng vàng”.
Hôm ấy cũng chẳng có ai vác.

Hôm sau nữa Thương Ưởng lại cho thông báo như cũ nhưng thay vì thưởng 10 lượng thì giờ lại tăng thành 50 lượng. Dân chúng thấy kỳ lạ chưa biết ý của quan Tả thứ trưởng muốn gì.

Một người ăn mày nói:
- Cây gỗ nhẹ tưng thế này, vả từ cửa Nam sang cửa Bắc cũng chẳng bao xa. Để tôi vác thử sang xem quan Tả thứ trưởng xử sự ra sao?
Và người này đã vác thật! Khi vừa để thanh gỗ xuống cửa Bắc ông ta liền được người của quan Tả thứ trưởng mời vào trong trao tặng 50 lượng vàng thật! Những người khác thấy vậy cũng kéo sang cửa Nam vác gỗ sang cửa Bắc và cũng đều được lãnh thưởng 50 lượng.

Thực hiện xong việc lấy lại lòng tin của quốc dân, Thương Ưởng liền ban hành pháp lệnh mới để chính quyền cùng dân chúng thi hành.

Sau khi pháp lệnh được ban ra, chính quyền bắt đầu triệt để thực hiện. Từ các bậc công hầu cho tới hàng thứ dân hễ ai phạm lỗi đều bị trừng phạt đúng mức. Thái tử Doanh Tứ vì chê tân lệnh không đúng cũng bị trừng phạt. Vì Thái tử là vị vua tương lai không thể phạt trực tiếp, hai vị thầy dạy của Thái tử là Công Tử Kiền đã phải chịu cắt mũi và Công Tôn Giả đã phải chạm vào mặt.

Thế là từ đó dân nước Tần tin hễ nhà nước nói sao thì làm vậy.

Thang ngừng lại một lát để câu chuyện được thấm vào tai người nghe, đoạn tiếp:

- Thần khi mới nhậm chức, đã học chuyện đó mà cách chức mấy mống quan dưới quyền. Ra lệnh khắt khe với bọn dưới trướng. Dân tình giờ ai cũng hân hoan, khen ngợi quan lại triều ta chí công vô tư. Lời nói bây giờ thần đã có trọng lượng với dân rồi ạ.

Bạo khoát tay:

- Thôi không rườm rà, thế đã đến lúc phát huy nội lực chưa?

Thang tâu:

- Giờ đã là lúc chín muồi, thần đã có bản tấu xin triều đình phê chuẩn thu phí xe cộ trong dân gian.

Bản tấu của Đương Leo Thang chuyền tay cho triều đình đọc, ai cũng tấm tắc khen kế sách chu toàn, nghĩ trước sau chặt chẽ. Các quan lại đứng đầu các bộ như tìm ra được hướng đi, hân hoan bàn tán râm ran, người tính tăng giá thuốc, người lượng tăng giá than, người áng thu phí thuế đất ở phi nông nghiệp….

Vệ Kính Vương nâng ly mừng tể tướng Bạo:

- Quả là rừng xanh còn lo chi thiếu củi đốt, công lao này thuộc cả về tể tướng.

Bạo nhận chén rượu, khiêm tốn đáp lễ rằng.

- Ấy là nhờ Vương cả, giữ vững được niềm tin cho dân chúng đến chùa, giữ được chùa tất nhiên có oản mà thôi.

Triều đình nhà Sản nghị xong, tình đoàn kết lại tràn trề. Mọi mối tị hiềm đều được xua tan. Đúng là một nước cường thịnh, vua sáng tôi hiền. Khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng như lời tiên đế ban khi xưa.

Lúc lệnh ban ra, dân chúng đa số đồng thuận. Duy có lác đác vài kẻ cự nự. Đại thần nghị chính kiêm tổng trấn kinh thành là Cả Sáng phán:

- Chúng mày nhiều tiền mua xe đi, kêu ca cái nỗi gì.

Dân chúng từ đó không còn ai dị nghị nữa.

Thứ Năm, 8 tháng 3, 2012

Cuộc cách mạng của Sợ Hãi

Vũ Đông Hà - Tội ác lớn nhất của một triều đại không hẳn là đốt sách, giết người hay làm cho đất nước trở nên nghèo khó, mà là làm cho cả một dân tộc trở nên hèn nhát, ích kỷ và mê muội. 

I. Từ Điện Biên Phủ đến Sài Gòn 

Khi mùi thuốc súng không còn phảng phất trong không gian lòng chảo Mường Thanh, khi những tiếng hò vang chào đón đoàn quân chiến thắng trở về thủ đô đã chìm lắng, khi những người nông dân tải gạo ra chiến trường đã về lại "xứ Đoài mây trắng lắm..., trở lại đồng Bương Cấn, về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng..." (1) thì những người lãnh đạo đảng Cộng sản đối diện với một thử thách mới, gay go gấp ngàn lần cuộc chiến Điện Biên: giữ quyền và điều hành, xây dựng, phát triển đất nước.

Những câu thơ "Trên đất nước, như huân chương trên ngực / Dân tộc ta, dân tộc anh hùng! / Điện Biên vời vợi nghìn trùng / Mà lòng bốn biển nhịp cùng lòng ta..." (2) không là những câu thần chú làm nên cơm áo. 

Những "Chiến sỹ anh hùng / Đầu nung lửa sắt / Năm mươi sáu ngày đêm / Khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt / Máu trộn bùn non / Gan không núng / Chí không mòn!" (2) không thừa trí tuệ để tự mình thảo nên một phương án thích nghi cho chính sách phát triển quốc gia. 

Thiên tài quân sự của thời chiến không đương nhiên là lãnh đạo tài ba trong thời bình. Winston Churchill, Charles de Gaulle, Harry S. Truman - những người hùng ca khúc khải hoàng vào thời khắc sau cùng của Thế chiến thứ 2, trong thời bình chỉ để lại dấu ấn của những nhà lãnh đạo tầm thường. Vai trò của họ được lịch sử ghi nhận, nhưng thời của họ đã qua, nhường chỗ lại cho những người lãnh đạo tương lai, thích hợp cho bối cảnh và nhu cầu phát triển đất nước thời bình. 

Tại Việt Nam, tham vọng cầm quyền vô thời hạn đã được thể hiện sau cuộc cướp chính quyền bằng những khẩu hiệu màu đỏ với những cụm từ "đời đời", "muôn năm", được bổ sung thêm bằng những "quang vinh", "vĩ đại". Tham vọng đó, nếu đặt trong nhu cầu xây dựng lại đất nước sau một thế kỷ mất độc lập, đã không thể đạt được bằng khả năng và trí tuệ của những người chỉ quen cầm súng, khoét núi, ngủ hầm, đào địa đạo và đầu óc chỉ được bồi dưỡng bằng giáo điều cộng sản. Đảng cộng sản Việt Nam phải bằng mọi cách để duy trì vai trò lãnh đạo lâu dài sau khi tiếng súng đã im hơi và tiếng óc ách từ bao tử đói của người dân đang trỗi dậy. 

Từ đó, một cuộc chiến mới được dựng lên và trở thành sứ mạng của toàn đảng và áp đặt lên toàn dân miền Bắc: Đấu tranh giai cấp. Kẻ thù không còn là những tên thực dân da trắng mà là những con người da vàng máu đỏ trong làng trong xóm. Phương án đã có sẵn, đã được tiến hành bởi những đồng chí đồng mộng đồng sàng từ phía "bên kia biên giới cũng là quê hương" (3). Những tên Hồng Vệ Binh một thời từng là thảo khấu trên con đường Vạn lý Trường chinh khi bị truy đuổi bởi Tưởng Giới Thạch được mời sang làm cố vấn. Ảnh Mao chủ tịch và Hồ chủ tịch được song hành treo lên "Bác Hồ ta đó cũng là Bác Mao" (4)

Cải cách Ruộng đất bắt đầu... 

Cuộc cách mạng long trời lỡ đất "Giết, giết nữa đi bàn tay không phút nghỉ / Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong / Cho đảng bền lâu cùng rập bước chung lòng / Thờ Mao chủ tịch, thờ Xì ta Lin bất diệt." (5) được lệnh xuất quân. 

Cho đảng bền lâu... 

Chiến dịch vĩ đại để cấy những con vi trùng SỢ HÃI vào tim não của mấy mươi triệu người dân được khởi xướng. 

Cho đảng muôn năm... 

Vũ khí là những cái loa và miếng vải đen bịt mắt. 

Chiến sĩ diệt thù và kẻ thù đều mang cùng một màu da, một dòng máu, cùng chia sẻ với nhau một nơi chôn nhau cắt rốn: nhân dân. 

Những thành phần có khả năng đe dọa đến vai trò lãnh đạo của đảng qua đó bị loại trừ. 

Khả năng lãnh đạo đất nước của đảng vinh quang không đo đạt bằng mức độ tăng trưởng mà bằng thành tích bao nhiêu "kẻ thù" bị tiêu diệt. 

Con số người bị tiêu diệt trong cuộc cách mạng "long trời lỡ đất" không ai biết đích xác nhưng chắc chắc một điều: gần như toàn bộ lòng can đảm của một nửa phần đất nước từ dòng sông Bến Hải trở lên, mới ngày nào làm nên chiến thắng Điện Biên lẫy lừng, đã bị giết chết nội trong vòng 3 năm. 

Từ đó, Đảng cộng sản xây dựng và củng cố guồng máy cai trị bằng những con vi trùng sợ hãi mỗi ngày một ăn sâu vào từng tế bào của người dân miền Bắc. Lởn vởn trên những cái đầu bấy giờ chỉ biết cúi xuống là những bóng ma... 

Bóng chúng
đè lên
số phận
từng người
Em cúi đầu đi mưa rơi
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót
Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ... (6) 

Hai mươi năm sau. Sài Gòn được "giải phóng". Nhà văn nữ Dương Thu Hương ngồi khóc bên lề đường khi nhận ra rằng "nền văn minh đã thua chế độ man rợ" (7). Những người cộng sản một lần nữa phải đối diện với bài toán của 20 năm trước. Thời kỳ toàn trị do đó được mở ra và cuộc cách mạng long trời lỡ đất ngày xưa được thay thế bằng những chiến dịch "Học tập cải tạo" không biết ngày về, chính sách đổi tiền, chiến dịch X1, X2 “Cải tạo kinh tế tư bản chủ nghĩa” mà vẫn được quen gọi là “Đánh tư sản mại bản”, xua dân đi kinh tế mới để lấy nhà và tài sản của dân. Chỉ vài năm sau, từ một trung tâm công nghiệp lớn nhất Đông Nam Á, toàn bộ nền sản xuất của Sài Gòn bị tê liệt. Người dân Sài Gòn 300 năm trước đó chưa bao giờ thiếu gạo, sau khi giải phóng xong thì cái dạ dày của người dân thành phố được giải phóng khỏi gạo. (8) 

Gần 1 triệu người Việt Nam bỏ nước ra đi, một cuộc di tản vĩ đại nhất trong lịch sử hơn 4000 năm của một dân tộc có truyền thống bám lấy quê cha đất tổ. Những thành phần ưu tú nhất của xã hội miền Nam phải đành đoạn lìa bỏ quê hương. 

Miền Nam, 20 năm sau đã cùng với đồng bào miền Bắc cúi đầu trong nỗi sợ hãi triền miên. Thống nhất! 

II. Sợ hãi - căn bệnh ung thư và di truyền 

Gần 60 năm ở miền Bắc và 40 năm ở miền Nam, bầy vi trùng sợ hãi đã đục khoét vào từng phế phủ của dân tộc Việt Nam. Sợ đảng, sợ cán bộ, sợ lẫn nhau và sợ ngay cả ý tưởng độc lập của chính mình. Nỗi sợ bám theo năm tháng làm cho người ta phải tự đánh mất chính mình để có thể yên thân sống. 

Những người cha, người mẹ cũng đã truyền lại cho những đứa con của mình những con vi trùng độc hại ấy. Truyền lại bằng chính thái độ sống của họ mà con cái chứng kiến từ lúc lọt lòng cho đến trưởng thành. Truyền lại bằng những lời "dạy bảo" tóm gọn trong triết lý sống tiêu biểu của thời đại búa liềm "khôn sống, dại chết". Hậu quả là những thế hệ thứ hai, thứ ba sau Cải cách Ruộng đất, sau Cải tạo Tư sản Mại bản đã coi đó là lẽ thường tình, một lẽ sống không có lẽ khác. 

Ngoài đảng thì thế. Ở trong đảng, đồng chí sợ nhau. Con người nhìn nhau trong ánh mắt xoi mói. Phê và tự phê trở thành "văn hóa" đảng. Người ta sợ ngay cả khi không có gì xấu xa để tự khai và để chứng minh sự thành khẩn. Kẻ thù thực dân, đế quốc đã cút; cường hào ác bá địa chủ đã được đảng tuyên bố "đào tận gốc, trốc tận rễ" thì đã có ngay một kẻ thù mới: thế lực thù địch và tự diễn biến. Kẻ thù này vô hình nhưng hiện hữu khắp nơi và bất cứ lúc nào. Theo chiếc đũa trừ ma huyền diệu của đảng, mọi tư tưởng, mọi hành động của mỗi người hợp lòng dân nhưng không theo ý đảng đều do bóng ma kẻ thù này kích động, xúi dục, giựt giây. 

Dân sợ đảng, đảng viên sợ đồng chí, cả nước đội lên đầu bảng hiệu "Đảng là cuộc sống của tôi" với sự sợ hãi triền miên. 

Và cứ thế, hơn nửa thế kỷ trôi theo mưa sa trên màu cờ đỏ, đảng đã thành công trong sứ mạng biến đại khối nhân dân thành những con người ngoan ngoãn nhất, biết cúi đầu, câm miệng trước dối trá, bất công và tội ác. Khi bộ não đã bị đảng chiếm đoạt, tư tưởng bị dẫn dắt, con người đã trở thành nạn nhân dễ dàng nhất cho những tiểu xảo tuyên truyền, chính sách nhồi sọ, bưng bít thông tin. Sợ hãi, tê liệt, nhiều người đã trở thành mù quáng với những giả-dối-tưởng-là-sự-thật. Stalin, Lenin, Mao, Castro, Kim, Hồ… tất cả trở thành những ông thánh trong cái thế giới mà “sự thật” nằm trong tay đảng, trong tay những kẻ có toàn quyền sở hữu những cái loa cũng như cái giẻ vô hình bịt miệng nhân dân. Trong thế giới ấy, ngày xưa, và bây giờ vẫn còn, những đám khóc vĩ đại với những giọt nước mắt mù khi lãnh chúa qua đời nhưng sự nghiệp vẫn đời đời sống mãi từ những cái loa và khẩu hiệu. 

Trong cái thế giới tê liệt vì sợ ấy, người dân như những con cừu non được dàn lãnh đạo cáo nhào nặn tâm hồn để lớn lên trở thành con (bị) lừa và sau đó là một con (đi) lừa những chú cừu trẻ thơ khác. Cuối cùng cừu, lừa, cáo chung chạ và thành một loài mới: loài sản. Trong không gian độc trị của loài sản ấy, lằn ranh phân định giữa nạn nhân và kẻ thủ ác cũng dần dà bị xóa mờ. Nhân dân Việt Nam chưa bao giờ góp phần vào quyết định chọn lựa ngôi sao vàng nằm trên lá cờ màu máu do đảng tự chọn nhưng đã đứng nghiêm trang và sẵn sàng hy sinh trước mảnh vải đã trở thành biểu tượng quốc gia. Đối với nhiều người, những gì có được ngày hôm nay là nhờ ơn bác và đảng chứ không phải bằng mồ hôi và trí tuệ của mấy chục triệu người. Lãnh tụ của đảng đã trở thành cha già muôn vàn kính yêu của cả dân tộc và là thước đo, chuẩn mực đạo đức trên mọi ngôn từ và diễn văn. 

Cũng có những người không đui mù, cũng chẳng ngu dại, nhưng nỗi sợ hãi thâm căn cố đế, cộng với tính tinh ranh của loài sóc khi phải sống đời với cáo, đã biến hoá tinh thông thành những mợ két hát theo thuần thục nhất, những chú khỉ đu dây lão luyện nhất. Họ mau mắn tung hô thủ lãnh của đảng khi các đồng chí thả cho vài cọng cỏ rơm và thiếu điều quên ngay chính đồng chí này là người bao năm nay vừa ăn cắp, ăn cướp vừa đốt rụi cánh đồng cỏ xanh mướt đáng lý là của họ. 

Cũng có khi, chúng ta như những con cừu - thành lừa - thành sản một ngày nào đó soi gương và nhận ra mình vốn dĩ là một con cừu bị lừa. Những đêm khuya trằn trọc đau đớn có đến, lương tâm tưởng đã ngủ quên có choàng thức giữa canh thâu. Thế nhưng khi con gà cất tiếng gáy, tiếng loa đầu ngõ vang lên thì chúng ta lại lồm cồm ngồi dậy và sống y lại cuộc sống đong đầy nỗi sợ của ngày hôm qua. Nhìn ra ngoài khung cửa, chúng ta sợ những chiếc áo vàng thấp thoáng và tiếng leng keng hình số 8. Nhìn vào gương, chúng ta sợ làm thất vọng, sợ làm rách thêm cái lương tâm vốn đã bị đảng xé rách toang theo năm tháng cuộc đời. 

Trong cuộc đời với lương tâm rách bươn vì sợ hãi đó, xuất hiện một thái độ sống mới: thờ ơ - hay mackeno, theo danh từ thời thượng đã quá mùa. Thái độ sống đó, chủ động có ý thức hay nằm trong tiềm thức của mỗi người, đều là hệ quả của sự sợ hãi đã truyền kiếp hay vốn đã thành bẩm sinh. Thờ ơ với tất cả, không quan tâm với mọi sự, con người tự chích cho mình mũi thuốc vô cảm để không còn cảm giác gì nữa đối với những điều tồi tệ chung quanh. Khi sự quan tâm bị đóng nút chai thì ý tưởng phản kháng sẽ không thể tiết phát. Và như vậy không còn gì để sợ hãi, không làm gì để phải sợ hãi. Đó là giai đoạn sau cùng của căn bệnh ung thư mãn tính - sống không còn cảm giác

Và đó là điều mà đảng muốn; ý muốn của những người không có khả năng điều hành đất nước nhưng muốn độc quyền lãnh đạo muôn năm. Vai trò lãnh đạo đó đã được xây dựng bằng máu và nước mắt của nhiều thế hệ, của cả đảng viên lẫn không đảng viên để phát tán căn bệnh ung thư thời đại búa liềm: Sợ. Vai trò đó tồn tại đến ngày hôm nay, không tùy thuộc vào khả năng phát triển đất nước mà nhờ vào gần 90 triệu người dân đã và đang được "thuần". 


Nhìn lại mấy mươi năm, lột da, nhỏ máu của chính mình để thấy bóng ma sợ hãi nó chế ngự cả một dân tộc như thế nào. Để không trách nhau là hèn. Để đừng mắng nhau là nhát. 

Để biết sẽ khó mà có một cuộc cách mạng dân chủ nếu sự sợ hãi vẫn tiếp tục là bóng ma lởn vởn trên đầu. 

Để biết tại sao mọi lời kêu gọi chỉ có được vài trăm hoặc vài ngàn người hưởng ứng, không đủ để tạo thành cơn sóng đổi đời. 

Để biết mọi kế hoạch đều bất khả thi nếu bước chân con người vẫn rụt rè và chôn cứng trong bốn bức tường hãi sợ. 

Gần nửa thế kỷ với căn bệnh trầm kha này, liều thuốc nào có thể chữa trị được cho chúng ta? Đã đến lúc chúng ta phải tập trung ngậm ngãi tìm trầm, đi tìm, đi kiếm để sớm chấm dứt tình trạng đứng bên này bờ ảo vọng bằng đôi chân run mà cứ ước mơ đội đá vá trời, để những lời kêu gọi tha thiết nhất không chỉ dội lại như những tiếng vọng từ vực sâu. 

(còn tiếp) 


(1) Thơ Tố Hữu - Hoan hô chiến sỹ Điện Biên 
(2) Thơ Quang Dũng - Đôi mắt người Sơn Tây 
(3) Thơ Tố Hữu 
(4) Thơ Chế Lan Viên 
(5) Thơ Tố Hữu 
(6) Thơ Trần Dần - Nhất định thắng 
(7) Tôi khóc ngày 30 tháng Tư 75 vì thấy nền văn minh đã thua chế độ man rợ
(8) Giáo sư Đặng Phong - Những cơ hội bỏ lỡ và chặng đường phía trước

Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2012

Đại Vệ Chí Dị 45

 


Nước Vệ triều nhà Sản, năm thứ 67, đời Vệ Kính Vương năm thứ hai.

Kinh tế sa sút, hàng loạt các nhà buôn, chủ xưởng vỡ nợ. Vụ án huyện Lãng thành Hoa Cải Đỏ nhùng nhằng chưa dứt. Cứ ngỡ tể tướng Bạo quyết xong, nhưng quan lại thành Hoa Cải bấy lâu vốn xưng hùng một cõi. Sản vật, thuế má cống nạp về triều bao năm nay đâu ra đấy, bèn ỷ công đó mà trây ì chưa quyết xong án xứ Lãng. Đã thế quan đầu tỉnh lại họp các bô lão bao biện rồi trách móc đại lão thần, dư luận cứ hối thúc thiên vị, làm cả nước mất tập trung , chểnh mảng chuyện làm ăn khiến cho giá cả mọi thứ tăng vọt.

Vệ Kinh Vương kinh luận cái thế, bụng chứa ba vạn sáu nghìn chữ, thuộc làu sách thánh hiền, nhìn rõ bản chất sự việc. Ngày nọ đầu năm mới triệu tập đại hội quần thần, chấn chỉnh tư tưởng, đạo đức và lề lối cai trị của quan lại vào quy củ. Vương nghị luận đanh thép, chỉ rõ những việc cấp bách phải làm, liên quan đền sự tồn vong của nhà Sản. Quần thần ai nấy đều kính phục, toàn dân, toàn quân, toàn quan lại nhiệt liệt tán thành. Quyết tâm khi thế cải cách, loại bỏ những sai lầm được tất cả quần thần ủng hộ.

Dân ngoài chợ bàn nhau, người hào hứng nói:

- May mắn thay nước Vệ còn có minh quân, vạch rõ những yếu huyệt của quan lại như tham nhũng, xa hoa, bất tài, suy thoái đạo đức, kết bè, kết cánh, độc đoán.

Người khác hớn hở nói:

- Trước hết muốn trị bệnh phải nhìn rõ bệnh, lần này triều đình ta đã công khai chuẩn bệnh. Bước đầu đã suôn sẻ, chỉ còn việc trị bệnh là xong. Đúng thuốc, đúng bệnh lo gì không khỏi.

Bấy giờ có kẻ lang thang đi qua, thò đầu vào đám đông nói:

- Ối dào, bệnh có gì đâu, tôi đi khắp bốn phương, tám hướng, Tần, Sở, Tề, Ngụy... nơi nào chả có chuyện quan lại tham nhũng, bất tài, vô đạo. Thế mà nước họ vẫn cường thịnh đó thôi.

Một người gắt:

- Ngươi thì biết cái gì ? Đành rằng ở đâu cũng có người thế nọ, thế kia, nhưng ít hay nhiều mới là quan trọng. Nước người ta 100 vị quan có vài tên tham nhũng, bất tài, vô đạo. Chuyện đó không nhiều nên mới không quan trọng.

Kẻ lang thang cự lại:

- Ở nước ta thì cũng thế, đâu có nhiều tham quan, vô đạo đâu ?

Người khác nạt nộ:

- Dựa vào đâu ngươi bảo không nhiều, nếu không nhiều thành vấn đề nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự tồn vong của triều đình thì làm gì phải triệu đại hội quần thần chấn chỉnh.?

Kẻ lang thang xin miếng nước, uống xong bát trà xanh, hắn ngồi trên càng xe bò giữa chợ thủng thẳng rằng.

- Xưa Ung Chính nhà Thanh lên ngôi, ban hành chấn chỉnh quan lại tham ô. Khi dự luật đã bị nhiều kẻ ngáng trở, lúc luật ban rồi quan lại mặt mũi đa phần rầu rĩ. Ấy là bởi họ chính là những bị thiệt hại về luật mới ban ra, thái độ mới như thế.

Nay nhà Sản chúng ta, ban hành luật mới trị tham ô, bất tài, vô đạo mà như lời Vệ Kính Vương nói thì toàn bộ đại thần quan lại các cấp đều hớn hở, vui tươi, tán thành nhiệt liệt. Chả phải suy ra thì toàn bộ số ấy đều là trung thần, hiền đống, thao lược cả, cho nên mới hào hứng vậy. Đâu phải như lũ tham quan, vô đạo thời Ung Chính mà phải buồn rầu, lo lắng. Người ta nói cây ngay không sợ chết đứng là vậy.

Mọi người nghe xong lặng thinh suy ngẫm, rồi lác đác có kẻ gật gù tán thành. Một người nói:

- Có thể đúng là nước Vệ nhà ta, các quan lại đều trung chính, đức độ cả. Cho nên đông đảo mới tán thành hăng hái với chấn chỉnh của Vệ Kinh Vương.

Người khác hoài nghi chêm vào:

- Nhưng chẳng lẽ quan lại chúng ta tốt thế, lại ra luật chấn chỉnh là sao ?

Kẻ lang thang đứng dậy, rũ áo nói:

- Trong lời của Vệ Kính Vương có nhắc lại nhiều lời của Tiên Đế dạy quần thần cách đây mấy mươi năm. Bậc thánh nhân phải biết nhìn xa. Nay Vệ Kinh Vương học Tiên Đế, ban hành luật bây giờ để phòng xa mấy mươi năm sau, quan lại nhà Sản có tham nhũng, vô đạo thì người sau trị nước còn có lời dựa vào mà nghị tội. Phàm đã là quân vương phải có lời vàng ngọc để cho hậu thế vài đời sau còn có cái nhớ đến mình. Đấng anh minh trong lúc yên bình phải thấy lúc loạn lạc, nước Vệ ngày nay may thay có được Vệ Kính Vương biết lo cho mấy đời sau, thật là hồng phúc cho Đại Vệ.

Vệ Kính Vương chọn ngày đẹp, đứng giữa điện Kinh Thiên bố cáo luật. Bá tính nghe nuốt từng lời vàng ngọc anh minh, rồi nhất loạt tung hô.

- Hồng phúc, hồng phúc, đại hồng phúc

Quần thần trên điện bá vai, bá cổ thể hiện tình đoàn kết, cười ngặt ngẽo tỏ sự hân hoan tán thành sự thành công của luật quan lại, miệng nhất loạt tán dương rằng.

- Thành công, thành công, đại thành công.

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

Giải Nobel Hòa Bình 2012 cho Việt Nam, sao không thể?

February 8, 2012
Nguyễn Ngọc Già
Tác giả gửi đến Dân Luận
 
Trong lịch sử hơn trăm năm của giải thưởng danh giá – giải Nobel Hòa Bình (1) – khuyến khích và ghi nhận, đồng thời trở thành niềm cổ vũ lớn lao, cũng có thể coi như điểm tựa tinh thần mãnh liệt cho hoạt động vì hòa bình thế giới, người ta đã từng tiếc rẻ về trường hợp của Ngài Mahatma Gandhi, khi nhiều lần được đề nghị trao giải nhưng cuối cùng trước khi Ngài bị ám sát vào năm 1948, giải thưởng danh giá này vẫn không được trang trọng trao cho Ngài. Tuy vậy tư tưởng vĩ đại của Ngài đã trở thành luận thuyết khả thi cho nhiều dân tộc khác trên thế giới đấu tranh đòi hỏi nền tự do dân chủ bằng phương pháp ôn hòa, nhân ái, từ bi – có lẽ từ lý do đó mà nhân loại đã phong Ngài trở thành Thánh.


Lịch sử Nobel cũng gợi nhớ trường hợp ông Lê Đức Thọ được trao giải Nobel Hòa Bình năm 1973 để ghi nhận quá trình nỗ lực cùng ông Henry Kissinger cho ra đời Hiệp định Paris (2) nhằm chấm dứt chiến tranh, lặp lại hòa bình ở Việt Nam cũng như cho Đông Dương. Tiếc rằng, ông Thọ đã từ chối. Theo thời gian, hiện nay chẳng còn người dân Việt Nam nào cảm thấy khó hiểu về hành động từ chối này, bởi lẽ nó hoàn toàn logic với tư tưởng của người cộng sản – đấu tranh bằng bạo lực là phương châm duy nhất của họ để giành thắng lợi.


Nói không khéo, nếu việc nhận giải của ông Thọ xảy ra thì Hiệp định Paris bị phá vỡ sau đó sẽ trở thành chứng cớ tố cáo khó chối cãi về bản chất gian giảo, lật lọng của người CSVN trước toàn thế giới. May cho giải thưởng danh giá này không bị mất uy tín và rủi cho nhân dân Việt Nam khi vuột mất cơ hội được sống và làm lại từ đầu, xuất phát một khởi nguồn hòa bình sau quá nhiều máu đổ, xương phơi trên toàn cõi Việt Nam. Vô phúc cho nhân dân Việt Nam, khi đã trôi tuột một Nhà nước pháp trị được xây nền từ hòa bình, văn minh bởi những lời thỏa thuận ở cấp quốc tế và quốc gia. Quả đáng tiếc và bội phần cay đắng khi nhắc lại Hiệp định Paris mà người việt Nam cứ ngỡ sẽ là hiện thực sau đó.


Nhắc lại thêm đau thương, ôn lại thêm tủi hổ. Tất nhiên, tủi và đau ở đây, trước hết cho ngay người CSVN, khi có vẻ chính họ đã vì tham vọng điên cuồng, mê muội biến cả Việt Nam, Đông Dương trở thành “tiền đồn XHCN” phục vụ cho Liên Xô và Trung Quốc thực hiện nhuộm đỏ cả thế giới! Ôi! Cái “thế giới đại đồng” do người CS huyễn hoặc đặt ra, giờ đã tan tành mây khói!


Ngày cha tôi còn sống, ông và “đồng chí” của ông hay bàn tán về Hiệp định Paris và tôi nghe lõm được (tất nhiên không biết thực hư ra sao, nhưng tôi tin 8 phần thực) rằng: Ông Lê Đức Thọ từ chối giải Nobel do yêu cầu từ “ngoài” cho đến “trong”, nghĩa là từ Trung Quốc, Liên Xô cho đến Việt Nam (tất nhiên là miền Bắc lúc bấy giờ). Bởi lẽ, cha tôi nói có 2 lý do chính:
- Nếu nhận giải thì coi như “chúng ta” đã dính bẫy Mỹ và “bè lũ”. “Chúng nó” gài “chúng ta” bằng cái giải uy tín như thế làm sao “chúng ta” thực hiện ý đồ của mình?! Bởi Mỹ và chư hầu phán đoán Hiệp định Paris có thể bị lật lọng, tráo trở, nên gài “chúng ta” bằng cái giải danh giá đó, để nếu “chúng ta” có phản pháo thì khó bề ăn nói với thế giới, tất nhiên chẳng ai ủng hộ chúng ta cả, ngay cả dân Mỹ cũng thế, mọi việc sẽ càng dễ bị…lột mặt nạ (!)
- “Chúng ta” luôn giữ đúng phương châm “vừa đánh vừa đàm”. Đàm thì cứ đàm, nhưng đánh thì chọn đúng thời cơ cũng như đảm bảo “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”.


Tôi không biết có bao nhiêu người đồng tình với 2 lý do trên, riêng tôi, tôi thấy đúng, đúng với bản chất người Cộng sản.
Giải Nobel Hòa Bình 2012 cho Trần Huỳnh Duy Thức và Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ,  sao không thể?
Giải Nobel Hòa Bình 2012 cho Trần Huỳnh Duy Thức và Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, sao không thể?


Vừa qua, theo loan báo của đài RFA và VoA, bà Loretta Sanchez – dân biểu Mỹ và phóng viên Ỷ Lan (đài RFA) thực hiện cuộc phỏng vấn dân biểu Ramon Tremosa I Balcells – Châu Âu (3), cả hai vị này đều lên tiếng đề nghị và ủng hộ trao giải thưởng uy tín – giải Nobel Hòa Bình cho người Việt Nam – Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ – nhà đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền trong nước không mệt mỏi suốt gần 40 năm qua. Đó là một tin rất đáng mừng cho người Việt Nam. Nhiều người vẫn không quên Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ (4) đã từng nhận giải tưởng niệm Thorolf Rafto năm 2006 và là một người được đề cử cho giải Nobel Hòa bình nhiều lần, tuy vậy cho đến nay giải thưởng cao quý đó vẫn chưa đến tay Ngài. Nhắc điều này để mọi người chúng ta càng tiếc rẻ cho Ngài Mahatma Gandhi, khi chính ủy ban trao giải Nobel cũng đã từng tiếc nuối khi cho đến lúc Ngài Mahatma Gandhi bị ám sát giải thưởng này vẫn bỏ quên Ngài. Tất nhiên, những bậc vĩ nhân chẳng bao giờ quan tâm đến những giải thưởng gì khác, hơn là phần thưởng to lớn mà các Ngài hằng khát khao: Dân chủ, tự do, nhân quyền cho chính dân tộc mình và cho nhân loại.


Không có gì phàn nàn hay đắn đo khi người Việt Nam trong và ngoài nước cùng ủng hộ giải Nobel Hòa Bình được trao cho người Việt Nam trong năm nay, bởi đó sẽ là nguồn khích lệ lớn lao, nguồn động viên thiết thực của thế giới dành cho dân tộc chịu quá nhiều đau thương, mất mát gần 40 năm qua dưới ách cai trị bạo tàn và xảo trá mang tên CSVN. Giải thưởng cao quý này nhất định sẽ trở thành một cánh quân quả cảm để người Việt Nam cùng nhau tập hợp lại, phất cao “Lá cờ – Nobel Hòa Bình” mà thế giới trao cho chúng ta như một niềm cổ vũ, như một lời cảm thông và trên hết như một lời hiệu triệu người Việt Nam hãy nắm chặt tay nhau và cùng chuyển thông điệp quan trọng, cấp thiết và dứt khoát đến ĐCSVN rằng: HÃY QUAY VỀ VỚI DÂN TỘC, TỔ QUỐC TRƯỚC KHI QUÁ MUỘN!


Thật lòng, ngoài Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ – Người rất xứng đáng nhận giải thưởng này, tôi mong Ủy ban trao giải tại Oslo hay xem xét, cân nhắc và quan tâm đến một người đủ cả tâm, tài, tuệ, đó chính là ông TRẦN HUỲNH DUY THỨC.


Giá như tôi có được một lá phiếu trong tay, người tôi đề cử sẽ là TRẦN HUỲNH DUY THỨC. Bởi xét về quá trình cống hiến có lẽ anh còn thua xa Ngài Thích Quảng Độ, nhưng xét về sức bật và sự đóng góp cho tương lai Việt Nam hòa bình (tôi tin một ngày không xa), anh còn thừa năng lượng để cống hiến cho Việt Nam tất cả tâm, trí, lực với tuổi đời còn đủ trẻ, với khối óc thông minh cùng một tấm lòng lương thiện, yêu nước không mảy may ngờ vực cho bất kỳ ai.


Tôi tin giải Nobel hòa Bình 2012 sẽ được trao cho người Việt Nam. Tôi tin ngày ấy đang đến. Khởi từ giải thưởng Nobel Hòa Bình trong năm nay – cho TRẦN HUỲNH DUY THỨC HAY ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG ĐỘ – chính là cho VIỆT NAM.


Miến Điện đang đổi thay từng ngày bởi lòng yêu nước, thương dân nồng nàn của bà Aun Sang Suu Kyi cùng sự quay đầu hối cải của nội các Thein Sein. Sao người Việt Nam không có quyền nghĩ đến điều này và… sớm hơn?


Tôi tin điều đó!


Nguyễn Ngọc Già